Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2010

Khởi sắc ở vùng đồng bào dân tộc

Huyện U Minh hiện có 1.063 hộ dân tộc Khmer với 5.825 nhân khẩu, sống tập trung nhiều ở 3 xã: Khánh Hòa, Khánh Lâm và Nguyễn Phích. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng bào Khmer ở U Minh sát cánh cùng với đồng bào Kinh một lòng theo Đảng, tham gia kháng chiến.

Những cống hiến to lớn của đồng bào dân tộc Khmer trong huyện đã được Đảng và Nhà nước tôn vinh, ghi nhận. Toàn huyện có 28 gia đình Khmer có công với cách mạng, trong đó có 19 thương, bệnh binh và 9 liệt sĩ.

Ổn định đời sống người dân tộc

Cùng với cả nước, những năm qua, huyện U Minh thực hiện khá tốt các chương trình, dự án ưu đãi đối với đồng bào dân tộc. Chỉ tính riêng trong 5 năm qua, huyện đã xây dựng 705 căn nhà theo Quyết định 134, cấp trên 37 ha đất ở và đất sản xuất cho 25 hộ dân tộc Khmer nghèo, vận động nhân dân cho 115 hộ Khmer mượn đất để cất nhà ở và hỗ trợ nước sinh hoạt cho 358 hộ.

Qua đó, nhiều làng xóm mới có đông đồng bào Khmer như tuyến dân cư T29 - 89, T93… được hình thành. Bà con bắt tay vào khai phá, cải tạo đất đai, biến vùng rừng rậm hoang vu trở thành vùng đất phì nhiêu, dân cư đông đúc.

Sinh hoạt văn hóa, văn nghệ tại Salatel, ấp 6, xã Khánh Hòa.
Huyện U Minh có 4 xã được hưởng lợi từ Chương trình 135 của Chính phủ. Trong đó, xã Khánh Hòa đã được đầu tư xây dựng cụm xã theo tinh thần Quyết định số 648 của Chủ tịch UBND tỉnh với quy mô gần 27 ha.

Hiện đã triển khai xây dựng 25 công trình như: chợ xã, trường học, trạm y tế, đường giao thông… với tổng kinh phí trên 71 tỷ đồng. Ngoài ra, bà con trong xã còn được trợ giá, trợ cước, hỗ trợ cây, con giống trên 1,5 tỷ đồng; hỗ trợ vốn vay gần 50 tỷ đồng.

Bà con dân tộc Khmer của các xã còn lại cũng được hưởng nhiều ưu đãi về vốn vay, cây, con giống, hỗ trợ kiến thức khoa học - kỹ thuật trong sản xuất.

Phát triển đời sống văn hóa tinh thần

Phát triển đời sống văn hóa tinh thần cho bà con dân tộc Khmer là một trong những mục tiêu lớn mà huyện U Minh đang hướng đến. Ngôi Salatel được xây dựng khang trang tại ấp 6, xã Khánh Hòa với hàng trăm triệu đồng, là công trình sinh hoạt văn hóa đầu tiên trong huyện dành cho đồng bào dân tộc Khmer.

Vào những ngày lễ, Tết, bà con Khmer trong huyện tụ hội về đây thực hiện các nghi lễ tôn giáo, sinh hoạt, giao lưu văn hóa, văn nghệ. Cũng tại nơi đây đã vinh dự đón tiếp đồng chí Sơn Song Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ cùng với nhiều đồng chí lãnh đạo của Trung ương về thăm hỏi, nói chuyện với đồng bào.

Ngoài công trình Salatel, huyện còn đầu tư xây dựng con lộ bê-tông dài trên 2 km tại kinh Xóm Lớn (Nhà nước hỗ trợ 100% vốn). Từ khi con lộ được xây dựng, việc đi lại của bà con trong xóm thuận tiện hơn, bộ mặt xóm làng thêm khởi sắc.

Đổi thay ở những xóm làng có đông đồng bào dân tộc Khmer trong huyện U Minh đã tô thêm nét rạng ngời trên diện mạo của những miền quê mới. Đồng bào Khmer đang cùng với cộng đồng người Kinh ở địa phương nối tiếp truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, ra sức thi đua lao động sản xuất, quyết tâm làm giàu cho gia đình và góp phần xây dựng quê hương U Minh ngày thêm giàu đẹp./.

Bài và ảnh: Lê Hữu Lợi

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2010

Đổi thay toàn diện vùng đồng bào Khmer ở huyện Mỹ Tú

Đến Mỹ Tú vào những ngày giáp Tết nguyên đán mới thấy hết khí thế sôi động của một huyện thuần nông vùng đồng bào dân tộc Khmer. Cánh đồng lúa vàng bát ngát như báo hiệu một vụ mùa bội thu. Xen vào đó là màu xanh đậm của dưa hấu – loại cây được hỗ trợ bằng nguồn vốn của Chương trình 135 đang vào vụ thu hoạch.

Dưa hấu của bà con Khmer được hỗ trợ từ nguồn vốn 135.

Ngay chân ruộng dưa hấu của gia đình, anh nông dân Thạch Suôl cho biết: Tuy thời tiết năm nay không thuận lợi lắm với nhà nông, nhưng với kinh nghiệm và dày công chăm sóc nên 2 công dưa hấu của gia đình anh năm nay được mùa. Vì được hỗ trợ giống, kỹ thuật chăm sóc nên dưa hấu bán tại chân ruộng ước đạt 4.000-5.000 đồng/kg.

Phần lớn đồng bào dân tộc Khmer ở huyện Mỹ Tú, Sóc Trăng sống tập trung ở 9/16 xã của huyện với trên 15 ngàn hộ, dân số gần 70 ngàn người. Từ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các nguồn đầu tư qua các chương trình, dự án như 134, 135, trợ giá trợ cước, hỗ trợ sản xuất… các cấp, ngành trong huyện đã tập trung đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế – xã hội của huyện một cách toàn diện, nhất là tập chung cho các xã có đông đồng bào dân tộc Khmer.

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, từ nguồn vốn đầu tư của các chương trình, dự án cộng với đóng góp trong dân, huyện đã đầu tư trên 123 tỉ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần trong vùng đồng bào dân tộc Khmer. Tính đến thời điểm này, 100% số xã, ấp vùng dân tộc Khmer có đường bê tông hoặc trải nhựa, gần 70% số hộ Khmer được sử dụng điện lưới quốc gia và hệ thống nước sạch. Nhiều mô hình sản xuất-kinh doanh có hiệu quả được khuyến khích nhân rộng như mô hình trang trại nuôi heo, gà công nghiệp, nông lâm thuỷ sản kết hợp, thu hút và đem lại thu nhập ổn định cho hàng ngàn lao động trong vùng.

Nhờ được đầu tư đúng hướng nên đến nay 9/16 xã tập trung đông đồng bào dân tộc Khmer trong huyện đã có trạm y tế, phòng khám khu vực, trong đó có 7/9 trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia. Có trạm y tế, đồng bào đã quan tâm nhiều hơn đến công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Bên cạnh đó công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ y tế cơ sở là người dân tộc ở Mỹ Tú cũng được coi trọng, toàn huyện hiện có 37 cán bộ y tế là người dân tộc Khmer.

Công tác giáo dục được quan tâm ngày càng toàn diện hơn, huyện có 5 điểm trường trung học phổ thông, 1 trường trung học cơ sở dân tộc nội trú, tại các xã đều có hệ thống trường trung học cơ sở. Năm học 2007-2008, huyện huy động được gần 12 ngàn học sinh dân tộc Khmer ở các cấp học đến trường, phong trào học tiếng Khmer cũng được chú trọng với 255 lớp học song ngữ (tiếng Việt và tiếng Khmer) với 6.418 học sinh ở cấp tiểu học và trung học cơ sở, 536 giáo viên người dân tộc Khmer. Phong trào xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở ở huyện đều đã được công nhận đạt chuẩn.

Không chỉ có vậy, phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được các vị sư sãi, à cha và đồng bào Khmer thực hiện tốt. Năm 2007 có trên 11 ngàn hộ, 34/56 ấp được công nhận đạt chuẩn văn hoá. Công tác chăm lo cho các gia đình chính sách, người có công, giúp nhau xoá đói giảm nghèo luôn được cấp uỷ đảng, cộng đồng và khu dân cư quan tâm và thực hiện tốt, do vậy tỉ lệ hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo trên địa bàn giảm nhanh (4-5%/năm, giảm hơn 1% so với chỉ tiêu nghị quyết của đại hội Đảng bộ huyện đề ra)…

Tiếp chúng tôi trong bộn bề công việc của những ngày giáp Tết, ông Lâm Ren, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Sóc Trăng không giấu được niềm vui: Từ một huyện nghèo, nay Mỹ Tú đã vươn lên, có nhiều nét khởi sắc. Thành công này nhờ định hướng đúng của cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, nhưng điều đáng phấn khởi nhất là đồng bào Khmer đã dần thay đổi nếp nghĩ, cách làm xưa cũ, vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng, tránh được tâm lý trông chờ, ỷ lại. Điều này đã được khẳng định rõ, không chỉ ở Mỹ Tú mà còn ở những vùng tập trung đông đồng bào dân tộc Khmer trong tỉnh.

Bài và ảnh: Mạnh Cường

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2010

Hơn 90% hộ dân đồng bào Khmer được dùng điện lưới quốc gia

LĐ) - Công ty Điện lực 2 (thuộc Tập đoàn Điện lực VN-EVN) đang triển khai việc xây dựng mới và nâng cấp lưới điện tại các vùng đồng bào dân tộc Khmer hiện chưa có điện tại 2 tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng, theo chỉ đạo của Chính phủ.

Theo tiến độ thực hiện, trong năm 2010 sẽ có khoảng hơn 40.000 hộ dân, trong đó trên 30.000 hộ là đồng bào Khmer có đời sống khó khăn, thu nhập thấp sẽ được ngành điện đưa điện đến tận nhà.

Ấp An Nhơn, xã Thới An Hội, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng có khoảng 50 hộ dân đồng bào Khmer, chủ yếu làm nghề nông, nhiều hộ nghèo phải đi làm thuê với mức thu nhập thấp.

Từ tháng 10.2009, Chi nhánh Điện lực Kế Sách đã triển khai lắp đặt lưới điện hạ thế, lắp côngtơ đo đếm điện tới tận hộ dân khiến người dân vô cùng phấn khởi vì được sử dụng điện sinh hoạt.

Theo Điện lực Sóc Trăng, đồng bào Khmer chiếm tới 50% sinh sống tại 2 tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng, hiện tỉ lệ hộ Khmer nghèo ở Trà Vinh là 48,3% và Sóc Trăng là 51,7%. Tỉ lệ số hộ dùng điện tại Trà Vinh và Sóc Trăng tính đến 5.2008 tương ứng là 87 và 87,7%, thì trong đó số hộ Khmer có điện chỉ đạt 80% (tại Trà Vinh) và 67,2% (tại Sóc Trăng). Do mức sống bình quân thực tế của bà con hiện rất thấp, nên điện năng tiêu thụ bình quân người Khmer chỉ đạt 65-75 kWh/người/năm (so với bình quân toàn quốc 637 kWh/người/năm)...

Ông Nguyễn Thanh Long - GĐ Điện lực Trà Vinh- cho biết: “Dự án cấp điện cho các hộ Khmer tại Trà Vinh sẽ được thực hiện tại 378 thôn ấp của 83 xã thuộc 7 huyện trong tỉnh, với tổng mức đầu tư khoảng 226,9 tỉ đồng. Tổng số hộ dân được cấp điện sinh hoạt từ dự án khoảng 19.923 hộ”.

Còn tại Sóc Trăng, ông Huỳnh Minh Hải - GĐ Điện lực - khẳng định: “Với tổng mức đầu tư là 305 tỉ đồng, sẽ có 20.388 hộ dân, chủ yếu là người Khmer được hưởng lợi từ dự án”. - Việc đầu tư sẽ bao gồm xây dựng mới và nâng cấp lưới điện. Riêng mạng điện trong nhà sẽ do các hộ tự bỏ kinh phí, song đối với các hộ nghèo đặc biệt khó khăn, hộ gia đình chính sách xã hội sẽ được UBND hai tỉnh hỗ trợ kinh phí, lấy từ nguồn vốn Chương trình 134, 135...

Để các dự án được triển khai đúng tiến độ, Cty Điện lực 2 cho biết: Dự án sử dụng nguồn vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á được ngân sách nhà nước cho vay lại nên cần có cơ chế và hướng dẫn cụ thể việc cấp vốn từ các bộ, ngành để quá trình thực hiện không bị chậm chễ.

Liên quan tới tiến độ đền bù, GPMB có khả năng cũng làm chậm tiến độ, Cty Điện lực 2 kiến nghị UBND hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh vận động các hộ dân trong vùng dự án hợp tác, nhằm hạn chế tối đa việc đền bù, xem đây là hình thức góp vốn của nhân dân cùng với Nhà nước đầu tư xây dựng lưới điện trên địa bàn.

Hồng Quân

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2009

Đồng bào Khmer xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn (An Giang): Chuẩn bị đón Tết Chôl - Chnam - Thmây



Anh Chau Sóc Kunh bên ruộng mè.


Ô Lâm là xã vùng sâu thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Từ trước đến nay, Ô Lâm được xem là xã nghèo của tỉnh, nơi có đến 98% đồng bào Khmer sinh sống. Song, những năm gần đây, nhờ Nhà nước đầu tư nhiều cơ sở hạ tầng, chương trình nước sạch, chương trình nhà ở… nên đã làm thay đổi mạnh mẽ diện mạo của vùng đất nằm dưới chân núi Cô Tô này.

Những ngày cuối tháng 3, ngày cận kề với Tết Chôl - Chnam - Thmây, chúng tôi đến có dịp đến Ô Lâm công tác. Ấn tượng đầu tiên là không khí thu hoạch vụ lúa đông xuân đang tất bật hơn bao giờ hết.

Gặp ông Tiêu Phú Hưng - Bí thư Đảng ủy xã, ông cho biết: Năm nay, bà con đồng bào Khmer ở đây ăn Tết Chol - Chnam - Thmây với hai niềm vui được mùa lẫn được giá".

Không vui sao được khi giá lúa năm nay đang ở mức 4.300 - 4.800đ/kg, cao hơn tết năm vừa rồi trên 1.000đ/kg. Đã vậy, năm nay năng suất lúa cũng đạt mức cao nhất trong gần 10 năm qua, đạt mức trung bình 8 tấn/ha, tính ra mỗi công ruộng nông dân thu được đến 3,5 triệu, trừ chi phí khoảng 30%, nông dân lời hơn 2 triệu đồng/công - ông Chau Kim Cương, nông dân sản xuất giỏi cấp tỉnh ngụ ấp Phước Lộc vui vẻ cho biết.

Khi hỏi về việc chuẩn bị đón Tết, người dân nơi đây ai ai cũng có chung niềm hân hoan bởi nhờ vào chính sách chăm lo cho đồng bào của Đảng và Nhà nước, bà con có được nguồn vốn, điều kiện đi lại, có nguồn nước tưới, nước sạch sinh hoạt.

Đồng thời, các ngành chức năng còn hỗ trợ khoa học kỹ thuật giúp bà con sản xuất có hiệu quả, nhờ vậy cuộc sống của họ so với vài năm trước đã khá hơn rất nhiều.

Đồng thời, từ năm 1997 đến năm 2006, Ô Lâm được hưởng thụ từ chương trình xây dựng trung tâm cụm xã miền núi vùng cao nên đã được Nhà nước đầu tư trên 7 tỷ đồng (134, 135), ngân sách huyện, tỉnh và các nhà hảo tâm tài trợ với tổng số tiền lên đến 7,5 tỷ; chương trình xét cấp đất cho hộ nghèo không đất, thiếu đất sản xuất cho 810 hộ với diện tích 485ha, tổng kinh phí lên đến 10 tỷ đồng và nhiều chương trình hỗ trợ cây giống, con giống, phân bón… Vì vậy, bà con đã có điều kiện sản xuất nên đời sống, nhất là đời sống của đồng bào Khmer từng bước phát triển, cuộc sống nhiều đổi mới, tỷ lệ hộ nghèo năm 2000 là 45%, nay chỉ còn 23%.

Từ năm 2006 đến nay, bà con Khmer ở đây còn được chuyển giao kỹ thuật trồng mè đen, loại cây này đang làm cho nông thôn ở Ô Lâm đổi thay đáng kể. Anh Chau Sóc Kunh, ngụ ấp Phước Thọ, cho biết: "Thay vì mùa này bỏ ruộng phơi đồng thì mình sạ mè đen, do loại cây này chỉ bón phân lót 1 lần/vụ và không cần tưới nước nên hiệu quả mang lại khá cao, trồng 1ha mè chỉ cần thu hoạch 3 công là đủ vốn, còn lại là tiền lời. Hiện tại, 1kg mè đen được thương lái mua với giá 21.000đ, tính ra mỗi công mè đen thu được 70kg thì người trồng bỏ túi 1,4 triệu đồng...".

Theo ông Chau Sa Im, chính vì hiệu quả kinh tế như thế nên năm nay, toàn xã đã có đến 200ha trồng mè, có thu nhập thêm khoảng 2,8 tỷ đồng. Ngoài ra, việc "Sind hóa" 70% số bò trong tổng số 5.600 con cũng là tín hiệu lạc quan trong đời sống kinh tế của bà con, nên Tết Chôl-Chnam-Thmây năm nay ai cũng vui vẻ chuẩn bị đón tết. Điều đáng mừng, là đa số đồng bào Khmer đã biết tiết kiệm hơn trong chi tiêu, không còn phô trương như những năm trước. Bà con đã chuẩn bị mọi thứ và sẵn cho Tết Chôl-Chnam -Thmây với tinh thần vui vẻ, lành mạnh, tiết kiệm./.


Đức Văn - T. Thanh

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2009

Cà Mau - Trà Vinh: Nâng cao đời sống đồng bào dân tộc Khmer




Cà Mau tiếp tục đầu tư 56 tỉ đồng xây dựng kết cấu hạ tầng cho 9 xã vùng đồng bào dân tộc Khmer sinh sống; triển khai thực hiện trợ giá, trợ cước, hỗ trợ vốn sản xuất, đất ở, tạo việc làm với tổng kinh phí 16 tỉ đồng; hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc với mức 7-9 triệu đồng/căn. Cà Mau đang đề nghị Trung ương tiếp tục hỗ trợ, phấn đấu đến cuối năm 2010 xóa xã đặc biệt khó khăn và kết thúc Chương trình 135. Cà Mau hiện có khoảng 7.320 hộ đồng bào dân tộc Khmer, với hơn 37.300 người sinh sống trên địa bàn các huyện Trần Văn Thời, Thới Bình, U Minh, Đầm Dơi, Ngọc Hiển và thành phố Cà Mau.

Thực hiện Chương trình 135, Cà Mau đã đầu tư hơn 600 tỉ đồng xây dựng hệ thống điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế và nhiều công trình phúc lợi xã hội khác trong vùng đồng bào dân tộc Khmer; xây cất 5.742 căn nhà, với tổng kinh phí hơn 41 tỉ đồng giúp đồng bào cải thiện về nhà ở; thực hiện trợ giá, trợ cước về cây trồng, vật nuôi và các mặt hàng tiêu dùng khác với tổng kinh phí trên 18 tỉ đồng. Ngoài ra, Cà Mau còn triển khai nhiều chính sách an sinh xã hội như: thực hiện các chế độ học bổng, miễn giảm học phí, cử tuyển con em dân tộc Khmer vào các trường cao đẳng, đại học; ưu tiên đào tạo nghề, giải quyết việc làm; khám, chữa bệnh miễn phí; nâng cấp, tôn tạo chùa chiền, xây dựng salatel để đồng bào sinh hoạt văn hóa… Nhờ vậy, Cà Mau đã giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc Khmer, đến nay còn khoảng 30% số hộ nghèo (giảm 20% so với năm 2005); đã có 10/19 xã thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn.

Thực hiện Đề án hỗ trợ nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn theo Quyết định 134 của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2005 đến nay tỉnh Trà Vinh đã hoàn thành đầu tư xây dựng đưa vào sử dụng 87 trạm cấp nước công suất 5m3/giờ/trạm; 01 trạm cấp nước với công suất 20m3/giờ; lắp đặt 8.142 đồng hồ nước (trong đó lắp đồng hồ nước lồng ghép trạm là 2.436 cái và đồng hồ nước tại trạm xây mới của dự án 5.706 cái); cấp 5.661 lu xi măng dung tích 1,3m3 nước/lu; xây 2.380 bể chứa với dung tích 1,3m3 nước/bể và 16 mạng phân phối nước.

Kết quả thực hiện đề án nói trên đã nâng tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch ở vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Trà Vinh đạt hơn 87% so với tổng số hộ. Tổng kinh phí thực hiện Đề án 50 tỉ đồng, trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ 43 tỉ đồng, ngân sách địa phương đóng góp 7 tỉ đồng.

LÊ HUY HẢI - Huy Hoàng (TTXVN)

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2009

Ðồng bào Khmer ở Sóc Trăng "trả sổ nghèo" đón Tết



ND - Trong khí trời se lạnh của những ngày cuối năm, chúng tôi có dịp đến thăm một số xã có đông đồng bào Khmer ở các huyện Vĩnh Châu, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) và rất mừng khi thấy nhiều hộ nông dân đến trụ sở UBND xã xin được trả lại sổ hộ nghèo để đón Tết được vui vẻ.
Là huyện vùng sâu có hơn 52% số dân là đồng bào Khmer, toàn huyện có 7/9 xã, thị trấn thuộc diện đặc biệt khó khăn, Vĩnh Châu là nơi giao thông cách trở, đời sống khó khăn nhất của tỉnh Sóc Trăng. Những năm gần đây với chính sách ưu đãi của Chính phủ từ Chương trình 135, 134 và nhiều dự án đầu tư vùng đồng bào Khmer đã tạo nên những chuyển biến tích cực. Hơn 40 công trình phúc lợi phục vụ phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào Khmer được xây dựng, tổng nguồn vốn gần 80 tỷ đồng.



Nông dân huyện Vĩnh Châu (Sóc Trăng)
thu hoạch hành tím.


Riêng để "đánh thức" vùng đất giồng cát ven biển Vĩnh Châu, rút ngắn khoảng cách đói nghèo, nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống, từ năm 2005 đến nay, Sóc Trăng đã đầu tư hàng chục tỷ đồng phối hợp với các nhà khoa học của Trường đại học Cần Thơ, Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long... đẩy mạnh chuyển giao các tiến bộ khoa học, kỹ thuật như trồng lúa cao sản năng suất cao, nuôi tôm sú, trồng vú sữa Lò Rèn, nuôi bò lai sind... Qua những mô hình này, nhiều nông dân Khmer sản xuất giỏi đã trở thành triệu phú nông thôn. Chú Sơn Dươl, ở ấp Ðại Bái A, xã Lạc Hòa là một người trong số đó.

Hôm chúng tôi đến thăm, chú Dươl thật thà kể: "Ngày trước nghèo lắm, nhà tôi mỗi bữa ăn đều phải độn khoai. Con em chẳng đứa nào được đi học...". Tuy bị thương tật nhưng nhờ chí thú làm ăn nên năm 2005, chú được ngân hàng đầu tư 10 triệu đồng, được các nhà khoa học Trường đại học Cần Thơ, Trung tâm khuyến nông Sóc Trăng giúp đỡ cộng với nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước, trở thành người tiên phong tham gia trồng lúa cao sản.Vụ lúa đầu tiên trúng mùa, trúng giá, trả xong nợ Nhà nước, chú còn đủ tiền đóng một cây nước sạch phục vụ cho sinh hoạt và tưới hành tím, củ cải trắng, dưa hấu, nhãn.

Tết này, từ nguồn lợi thu nhập lúa, hành tím, gia đình chú thu lãi hơn 20 triệu đồng. Từ nguồn vốn nghĩa tình của Nhà nước, chú đã có một cơ ngơi khá vững chắc: một căn nhà tường trông khá khang trang, hai ha đất sản xuất một vụ lúa, hai vụ màu, sáu con bò lai sind, thu nhập từ sản xuất lúa, màu, chăn nuôi bò hơn 60 triệu đồng, trừ chi phí sản xuất thực lãi gần 30 triệu đồng/năm.

Ở Vĩnh Châu, không chỉ có gia đình chú Dươl mà còn rất nhiều hộ người Khmer khác, trước đây nghèo lắm, chỉ sống nhờ vào việc mò cua bắt cá ở vùng đất ven biển để sống qua ngày, nay đã có cuộc sống khấm khá và trở thành những nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi của huyện. Chỉ riêng năm 2008, Vĩnh Châu có hơn 2.000 hộ thoát nghèo, trong đó phần lớn là hộ đồng bào Khmer. Vui hơn là có thêm hàng trăm hộ tự nguyện làm đơn xin rút khỏi danh sách hộ nghèo, nỗ lực vươn lên làm giàu mà không nhận sự ưu đãi hỗ trợ dành cho hộ nghèo.

Về xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, chúng tôi được nghe kể nhiều về "vua lúa giống" Danh Khal ở ấp Ðai Úi. Từ một nông dân Khmer nghèo, sau gần mười năm mày mò, chịu khó học hỏi kinh nghiệm theo "nghiệp" sản xuất lúa giống, ông đã cung cấp hơn 80 tấn lúa giống mới chất lượng cao có giá trị xuất khẩu cho bà con trong huyện và các địa phương khác trong tỉnh sản xuất.

Giống lúa ghi đậm dấu ấn của ông là giống ST3 thích nghi vùng nước lợ Sóc Trăng cho năng suất từ 6 đến 6,2 tấn/ha, cao gần gấp hai lần so với các giống địa phương khác. Hiện nay "vua lúa giống" Danh Khal không chỉ nổi tiếng sản xuất lúa giống mà còn là người tiên phong ứng dụng chương trình sản xuất "ba giảm, ba tăng".

Cùng có chung khát vọng làm giàu như Danh Khal, chị Trà Thị Tựng (ấp Bưng Cốc), anh Sà Lượl (ấp Béc Tôn ) đã trả được sổ hộ nghèo cho Nhà nước. Theo lời chị Sết, năm 2004 trong chương trình hỗ trợ bò cho hộ Khmer nghèo chăn nuôi trả chậm của Nhà nước, chị và hàng trăm bà con khác được cho vay mười triệu đồng/hộ chăn nuôi hai con bò sinh sản. Qua bốn năm chăn nuôi, chị Sết đã hoàn lại nguồn vốn vay cho Nhà nước và hiện gia đình đã có đàn bò sáu con, các phương tiện sinh hoạt gia đình như xe hon-đa, ti-vi...

Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Lê Thị Thuyết đưa chúng tôi đi thăm làng nghề đan lát thủ công mỹ nghệ ở xã Tham Ðôn. Tại đây, hơn 300 phụ nữ là người Khmer đang ngồi đan khay đĩa, giỏ bẹ, thảm... bằng cây lục bình và dây chuối theo hợp đồng của Hợp tác xã TTCN Ngọc Bích. Chị Thuyết cho rằng, đây là một nghề mới được phát triển ở địa phương. Nghề này dễ làm, phù hợp với người phụ nữ, lại quán xuyến được việc nhà, quản lý nhắc nhở con cái học hành và tăng thu nhập cho gia đình.

Chị Thạch Thị Sa Ry ở ấp Bưng Chụm cho biết, ngoài việc trồng hẹ, nuôi bò sữa, chị tranh thủ lúc rảnh rỗi đan giỏ đệm xuất khẩu, trung bình mỗi tháng thu nhập khoảng 1,5 triệu đồng, cả năm được 18 triệu đồng, tính ra thu nhập từ nghề đan lát cao hơn trồng lúa nhiều. Và cũng nhờ nghề đan lát mà gia đình chị và nhiều hộ Khmer nghèo trong xóm đã thoát khỏi cảnh túng quẫn, vươn lên khá giả, mừng hơn là đã trả sổ hộ nghèo cho xã.

Trao đổi ý kiến với chúng tôi về những thành tựu kinh tế-xã hội vùng đồng bào Khmer, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Lâm Ren cho biết: Sau khi tái lập tỉnh (1992), Sóc Trăng có 54/105 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, được hưởng Chương trình 135, 134, chính sách hỗ trợ giá, trợ cước vận chuyển... Các chương trình, chính sách trên đã và đang phát huy hiệu quả.

Chỉ riêng Chương trình 135 đã xây dựng 464 công trình cơ sở hạ tầng như: đường giao thông, hệ thống thủy lợi, điện nước sinh hoạt, trạm y tế, trường học, chợ... với tổng số vốn đầu tư hơn 273 tỷ đồng. Ngoài ra, 17 trung tâm thuộc xã, tỉnh cũng đã xây dựng được 72 hạng mục cơ sở hạ tầng với số vốn đầu tư gần 39 tỷ đồng. Thực hiện chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, đến nay tỉnh đã hỗ trợ cho hơn 282 lượt đồng bào Khmer gồm các loại giống, cây trồng, vật nuôi.

Ðể giúp đồng bào Khmer chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mở rộng sản xuất, phát triển làng nghề truyền thống, năm 2008 các ngân hàng trong tỉnh đã cho vay hơn 140 tỷ đồng vốn ưu đãi cho gần 15 nghìn hộ Khmer phát triển kinh tế gia đình. Chương trình 134 tiếp tục đầu tư hơn 122 tỷ đồng hỗ trợ nhà ở, đất ở, nước sinh hoạt, đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho 7.032 lao động là người Khmer. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo giảm khá nhanh từ 42% (năm 2005) xuống còn dưới 30% (năm 2008).

Một trong những nguyên nhân làm giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Khmer là do Tỉnh ủy, UBND coi trọng việc lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế, đặc biệt là công tác chuyển giao và ứng dụng tốt các tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhất là các mô hình lúa tôm, lúa cá, nuôi bò sữa, trồng màu... Nhờ vậy, những năm gần đây đời sống đồng bào Khmer ngày càng được cải thiện đáng kể.

Tuy nhiên, điều đáng mừng nhất hiện nay là ở nhiều địa phương vùng đồng bào Khmer bà con đã thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu chuyển sang phương thức sản xuất mới, hiệu quả kinh tế cao hơn. Từ đó xuất hiện ngày càng nhiều những tấm gương điển hình không trông chờ vào sự ưu đãi của Nhà nước để hưởng lợi, mà luôn nêu cao ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực thoát cảnh đói nghèo và vươn lên làm giàu cho bản thân, gia đình.

Có được cuộc sống tốt đẹp hôm nay, đồng bào Khmer ở Sóc Trăng luôn biết ơn sự quan tâm giúp đỡ bằng những việc làm cụ thể, thiết thực của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và sự hỗ trợ của cộng đồng. Cuộc sống mới tạo cho bà con thêm niềm tin, động lực để phấn đấu vươn lên xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc trong những ngày Xuân về, Tết đến.

Ðỗ Nam

Sóc Trăng cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế


Ngày 25/2, làm việc với lãnh đạo chủ chốt tỉnh Sóc Trăng, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đề nghị tỉnh Sóc Trăng cần tập trung đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Dù là tỉnh thuần nông, nhưng tỷ trọng nông nghiệp, thủy sản chiếm trên 50% cơ cấu kinh tế như hiện nay là khá cao.


Chủ tịch nước nhấn mạnh tỉnh cần phát huy tối đa thế mạnh của cơ sở nghiên cứu, lai tạo giống lúa mới để ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp; tiếp tục đẩy mạnh nuôi tôm theo hướng công nghiệp, qua đó thu hẹp bớt diện tích nuôi trồng nhưng vẫn bảo đảm tăng về sản lượng, giá trị hàng hóa.


Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đến thăm
các sư sãi chùa Dơi. (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)

Đồng chí đánh giá Sóc Trăng tới đây rất thuận lợi về thu hút đầu tư, nhờ có hạ tầng giao thông thuận tiện khi sân bay Trà Nóc, cầu Cần Thơ hoàn thành. Vì vậy, ngay từ bây giờ, tỉnh cần tích cực cải thiện môi trường đầu tư, chuẩn bị tốt hạ tầng để thu hút các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước.

Về những hạn chế, yếu kém của Sóc Trăng, Chủ tịch nước cho rằng, khó khăn hiện nay là quy mô kinh tế của tỉnh còn nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu. GDP bình quân đầu người mới bằng khoảng 3/4 mức bình quân cả nước. Vì vậy, bên cạnh nỗ lực của địa phương, Chủ tịch nước đề nghị các bộ, ngành Trung ương tích cực hỗ trợ Sóc Trăng trong một số dự án lớn như cảng nước sâu, khu kinh tế biển.

Chủ tịch nước lưu ý tỉnh Sóc Trăng cần quan tâm hơn nữa bảo đảm ổn định đời sống, các điều kiện hưởng thụ văn hóa, xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là đối với đồng bào Khmer. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Khmer ở Sóc Trăng còn cao.

Đến thăm Hội đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng, chùa Mahatup (chùa Dơi), chùa Khleang Sóc Trăng và trường Bổ túc văn hóa trung cấp Pali Nam Bộ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết hoan nghênh Hội đoàn kết sư sãi yêu nước và các sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer đã tích cực tổ chức nhiều hoạt động củng cố tình đoàn kết giữa người có đạo và người không theo đạo, giữa đồng bào Khmer và các dân tộc khác ở tỉnh. Đặc biệt, Hội đã tích cực đấu tranh, ngăn chặn các luận điệu kích động đồng bào Khmer chống Nhà nước, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết vui mừng khi thấy cuộc sống của bà con Khmer ở Sóc Trăng ngày càng được nâng cao. Các cấp chính quyền quan tâm, tạo thuận lợi cho sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hỗ trợ xây dựng nhiều công trình thờ tự. Các chùa Phật giáo Nam tông Khmer thường xuyên tổ chức những chương trình hướng dẫn đồng bào nắm bắt khoa học kỹ thuật nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong lao động sản xuất; động viên nhau trong cuộc sống, giúp nhau xóa đói giảm nghèo./.

(TTXVN)

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2009

Làm việc với tỉnh Cà Mau, Phó trưởng Ban thường trực ban chỉ đạo Tây Nam bộ - Sơn Song Sơn: Phải coi trọng khâu đào tạo cán bộ, nâng cao nhận thức cho


Từ ngày 19 đến 22-8, đoàn công tác của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ do Phó trưởng Ban Thường trực Sơn Song Sơn làm trưởng đoàn, có chuyến làm việc với tỉnh Cà Mau về tình hình thực hiện chính sách Dân tộc - Tôn giáo thời gian qua và một số lĩnh vực quan trọng khác liên quan đến đồng bào dân tộc Khmer của địa phương. Sau khi làm việc với Thường trực Tỉnh ủy để nắm tình hình, đoàn đã có buổi họp mặt các cán bộ, chức sắc, đồng bào dân tộc Khmer và đi thăm chùa Rạch Giồng, xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình; chùa Monivongsabopharam, Phường 1, Tp.Cà Mau; Salaltel xã Thanh Tùng, huyện Đầm Dơi…

Bà con dân tộc Khmer ấp Đường Đào trên đường đến cầu Rạch Giồng đón đoàn công tác Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ về thăm và làm việc tại địa phương.


Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ làm việc với cán bộ lãnh đạo, chức sắc đồng bào dân tộc tại xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình

Báo cáo với đoàn công tác về kết quả thực hiện chính sách Dân tộc - Tôn giáo thời gian qua của Cà Mau tại buổi họp mặt, Phó Chủ tịch UBND tỉnh - Trịnh Minh Thành nhấn mạnh: Đây là vấn đề được Đảng bộ Cà Mau đặc biệt quan tâm. Toàn tỉnh hiện có trên 37 ngàn người dân tộc Khmer (điều tra năm 2005), tỷ lệ hộ nghèo chiếm trên 51%, đến năm 2007, giảm còn 38,6% (mỗi năm giảm 4%). Giai đoạn 2000-2008, đã triển khai và thực hiện nguồn vốn Chương trình 135, đồng thời lồng ghép các chương trình của tỉnh vào các hạng mục công trình gồm: giao thông, thủy lợi, điện, trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt, chợ nông thôn và trợ giá, trợ cước, vốn sản xuất… trên 309 tỷ đồng; xây dựng hoàn thành ba trung tâm cụm xã theo Chương trình 135 của Chính phủ tại các huyện Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình. Việc xây dựng hoàn thành các trung tâm cụm xã đã góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nói chung, đồng bào dân tộc Khmer nói riêng; việc đào tạo cán bộ và cử tuyển con em dân tộc vào các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề cũng được chính quyền quan tâm sâu sắc. Đã có 127 con em là người dân tộc được đào tạo theo hình thức này. Nổi bật nhất phải kể đến là việc triển khai thực hiện các Quyết định 134 và 74 của Thủ tướng Chính phủ, về hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất, chuyển đổi ngành nghề và học nghề đối với đồng bào dân tộc Khmer. Đến nay, tỉnh đã hỗ trợ xây dựng được 5.685 căn, bàn giao sử dụng 4.689 căn, tổng trị giá trên 38,3 tỷ đồng và trên 53.000m2 đất, cho 1.014 hộ, bình quân mỗi hộ gần 50m2; về đất sản xuất, đã lồng ghép vào các chương trình khác trên địa bàn được 111 hộ, với 136ha. Đây là cố gắng rất lớn của Đảng bộ, quân và dân Cà Mau, từ kết quả đáng trân trọng này, một số vùng và bộ phận đồng bào dân tộc cuộc sống đã khá lên, đời sống văn hóa được cải thiện đáng kể.


Ông Sơn Song Sơn - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ thăm và làm việc tại chùa Monivongsabopharam Phường 1, TP.Cà Mau


Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ thăm cụm công nghiệp Khí-Điện-Đạm Cà Mau

Đồng bào dân tộc Khmer, các cán bộ, đảng viên, chức sắc trong tỉnh rất quan tâm đến chuyến đi của đoàn cán bộ Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ. Tại những nơi đoàn dừng chân như: chùa Rạch Giồng, xã Hồ Thị Kỷ; chùa Cao Dân, xã Tân Lộc (huyện Thới Bình); Salaltel xã Thanh Tùng, huyện Đầm Dơi; chùa Monivongsabopharam, Phường 1, Tp.Cà Mau, hàng trăm đồng bào dân tộc, chức sắc, chức việc, sư sãi, người dân, rất vui mừng, phấn khởi chào đón, tiếp xúc và trao đổi một cách thẳng thắn, chân tình, dân chủ, cởi mở với các thành viên trong đoàn. Đồng bào dân tộc cho rằng, nhiều năm qua, mặc dù Cà Mau còn nghèo, nhưng Đảng, chính quyền các cấp đã hết sức lo cho dân, tạo mọi điều kiện để đồng bào dân tộc ổn định cuộc sống, hưởng thụ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của người dân tộc Khmer. Bà con bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Nói chuyện với trên 300 đồng bào dân tộc, cán bộ lãnh đạo chủ chốt, đảng viên, chức sắc của tỉnh ngày 20-8, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - Sơn Song Sơn biểu dương những kết quả tích cực mà Cà Mau đã đạt được trong lĩnh vực kinh tế-xã hội, đặc biệt là thực hiện có hiệu quả chính sách Dân tộc - Tôn giáo, trong đó có một số chương trình, mục tiêu liên quan đến người dân tộc Khmer. Ông Sơn Song Sơn cho biết, mục đích của chuyến thăm và làm việc lần này với tỉnh là nhằm thông tin thêm tình hình trong nước và thế giới, một số chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước liên quan đến chính sách Dân tộc - Tôn giáo và lịch sử của vùng đất Nam Bộ cho cán bộ lãnh đạo các cấp nắm được, để tham khảo, vận dụng và triển khai thực hiện tốt hơn chính sách Dân tộc - Tôn giáo trên địa bàn. Từ đó nâng cao nhận thức trong cán bộ chủ chốt, cán bộ đương chức, các chức sắc, sư sãi, tín đồ, ban quản trị các chùa về chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước. Phải nhận thức đầy đủ chính sách Dân tộc bình đẳng của Đảng, Nhà nước để đủ lực, đủ sức đề kháng với các thế lực thù địch bên ngoài chống phá Đảng, chống phá Nhà nước CHXHCN Việt Nam, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nếu các cán bộ, đảng viên nhận thức được điều này, sẽ chỉ đạo từng cấp, từng ngành thực hiện tốt hơn, tự tin hơn, làm cho đồng bào dân tộc Khmer tin tưởng hơn vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; làm cho chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, Nhà nước thật sự đi vào cuộc sống của người dân, nhất là đồng bào dân tộc Khmer; đồng bào dân tộc phải coi đất nước Việt Nam này, dân tộc Việt Nam này là khối tài sản chung của cả ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer, không có thế lực nào có thể chia rẽ được. Việt Nam đi lên, người dân tộc cũng phải đi lên; mà muốn làm được điều đó, đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ với đầy đủ năng lực và phẩm chất, đặc biệt là cán bộ người dân tộc. Đường lối chính sách, cũng từ cán bộ xây dựng mà nên, cán bộ cũng là người quyết định, triển khai thực hiện đường lối. Đối với cán bộ là người dân tộc, ngoài việc được Đảng phân công, còn phải gánh nặng thêm dân tộc của mình; cán bộ người dân tộc mà không nói được tiếng của dân tộc thì không thể tuyên truyền được chủ trương, chính sách đến đồng bào dân tộc, hẳn chưa phải là cán bộ. Cán bộ mà xa dân, xa sư sãi, đồng bào… là có lỗi. Bởi dân tin Đảng, tin Nhà nước, tin ở đường lối, chủ trương, ở cán bộ của mình. Nếu là người Kinh bình thường, Đảng, Nhà nước không cần đào tạo cán bộ người dân tộc để làm gì. Bởi vậy, dù ở cương vị, chức vụ nào cũng nên nỗ lực, học tập tiếng mẹ đẻ của mình. Cán bộ người Kinh còn phải học, mình mẹ là người Khmer, cha là người Khmer, nên phải học tiếng dân tộc, phải phát huy, bảo tồn tiếng mẹ đẻ. Vì vậy, cán bộ luôn là khâu quyết định. Ở Cà Mau, cán bộ người dân tộc, so với dân số là người dân tộc chung trong tỉnh còn thấp, chỉ khoảng 200 cán bộ trên hơn 37 ngàn dân. Nên, Đảng bộ Cà Mau phải quan tâm đến vấn đề này, phát triển, đào tạo, bố trí, cán bộ đảng viên cho tốt, hợp lý, tạo điều kiện giúp cán bộ, đảng viên đi lên; làm sao cho trình độ dân trí người dân tộc phải được nâng lên; người dân tộc, cán bộ đảng viên là người dân tộc cũng phải nỗ lực hơn, phải biết hai thứ tiếng, phổ thông và tiếng mẹ đẻ; tiếng nói và chữ viết dân tộc cần phải được bảo tồn và phát huy.

NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ DÂN TRÍ, GIỮ GÌN PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC KHMER

LTS: Nhân chuyến làm việc của đoàn công tác Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ tại Cà Mau từ ngày 19 đến 22-8, Báo ảnh Đất Mũi có cuộc phỏng vấn Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ - Sơn Song Sơn, xung quanh một số vấn đề dân tộc, tôn giáo trong tình hình hiện nay.


Ông Sơn Song Sơn - UVTƯ Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực
Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ

PV: Những năm gần đây, đời sống của đồng bào dân tộc Khmer ở khu vực Tây Nam Bộ nói chung, Cà Mau nói riêng đã nâng lên rõ rệt, nhận định của ông về vấn đề này như thế nào, thưa ông?
- Ông Sơn Song Sơn - Ủy viên Trung ương Đảng - Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ
: Sự phát triển của đồng bào dân tộc Khmer, không thể tách rời sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc trong vùng. Riêng vùng đồng bào dân tộc Khmer, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách như Chỉ thị 68 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer; các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ như: Quyết định 135 “Phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa”; Quyết định 134 về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; các chính sách về trợ giá, trợ cước, chính sách hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn; chính sách về giáo dục, văn hóa và y tế... Gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 26 “Về ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL đến năm 2010”; Quyết định số 74 “Về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng ĐBSCL đến năm 2010”, từ đó đã tạo sự chuyển biến tích cực về kinh tế - xã hội trong vùng dân tộc Khmer: Hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt... đã có bước phát triển khá, làm thay đổi rõ nét bộ mặt nông thôn vùng dân tộc Khmer; công tác xóa đói giảm nghèo được triển khai trên diện rộng. Đến nay, có gần 70.000 hộ dân tộc Khmer được hỗ trợ nhà ở, trên 18.000 hộ được hỗ trợ đất ở, 26.000 hộ được hỗ trợ nước sinh hoạt, gần 3.000 hộ được hỗ trợ đất sản xuất, nhiều lao động có việc làm, đời sống đồng bào được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm, không còn hộ đói. Lĩnh vực giáo dục, đào tạo có bước phát triển đáng kể. Toàn vùng hiện có 21 trường phổ thông dân tộc nội trú với 6.068 học sinh. Cán bộ giáo viên Khmer hiện có 6.900 người. Các chùa Khmer hằng năm đều có tổ chức dạy bổ túc văn hóa song ngữ, Khmer ngữ, tiếng Pali, chương trình phật học Vini cho đồng bào và sư sãi... Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy. Văn hóa, nghệ thuật, báo chí, phát thanh, truyền hình có nhiều khởi sắc. Lễ, tết dân tộc được duy trì và phát huy. Nhiều ngôi chùa được trùng tu, xây dựng khang trang. Đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, được bố trí sử dụng trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, trong đó có một số cán bộ tiêu biểu được cơ cấu vào vị trí quan trọng ở các cấp, góp phần lãnh, chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ chính trị trong vùng dân tộc Khmer ngày càng hiệu quả hơn.

Đối với Cà Mau, nhiều năm qua, Trung ương và địa phương đã lồng ghép nhiều nguồn vốn khoảng 464 tỷ đồng cho Chương trình 135, 134. Qua đó, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư khá; giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 51,5% năm 2005 đến nay còn 38,6%, không còn hộ đói; có 5.386 hộ được hỗ trợ nhà ở, 1.079 hộ được hỗ trợ đất ở, 111 hộ được hỗ trợ đất sản xuất, 135 hộ được hỗ trợ nước sinh hoạt và có 10 dự án hỗ trợ di dân đang được triển khai thực hiện. Ngoài ra, tỉnh Cà Mau còn hỗ trợ nhạc cụ; sửa chữa, xây dựng chùa, tha la để đồng bào Khmer có điều kiện giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Đội ngũ cán bộ Khmer ở Cà Mau cũng được cấp ủy các cấp trong tỉnh quan tâm đào tạo, bố trí sử dụng ngày càng nhiều hơn trước.

PV: Ông có thể nêu một số định hướng và giải pháp cụ thể mà Đảng, Nhà nước sẽ triển khai thực hiện trong thời gian tới đối với đồng bào dân tộc Khmer?
- Ông Sơn Song Sơn: Định hướng chung là, các địa phương trong vùng Tây Nam Bộ, trong đó có tỉnh Cà Mau tổ chức thực hiện tốt Kết luận số 67-TB/TW ngày 14-3-2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X, về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 68 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI, về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer; Chỉ thị số 14/2003/CT-TTg ngày 5-6-2003 của Thủ tướng Chính phủ về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh - quốc phòng vùng ĐBSCL thời kỳ 2001 - 2010; Quyết định số 26/2008/QĐ-TTg ngày 5-2-2008 của Thủ tướng Chính phủ, về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với các tỉnh, thành phố ĐBSCL đến năm 2010, Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg ngày 9-6-2008 của Thủ tướng Chính phủ, về việc hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo... Thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo, từng bước nâng mức sống đồng bào dân tộc Khmer ngang bằng các dân tộc trong vùng và cả nước. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và giá trị tốt đẹp của Phật giáo Nam tông Khmer. Đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer ngang tầm với yêu cầu mới... Trong đó vấn đề đặc biệt quan tâm là nâng cao trình độ học vấn và chất lượng nguồn nhân lực, tạo điều kiện để đồng bào có cơ hội tốt về việc làm, tăng thu nhập, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

PV: Về thăm Cà Mau lần này, cảm nhận riêng của ông về đất và người nơi đây ra sao, đặc biệt là đồng bào dân tộc Khmer. Ông sẽ phát biểu mang tính gợi mở những vấn đề gì, để Đảng bộ Cà Mau tập trung làm tốt công tác dân tộc, tôn giáo trong thời gian tới?
- Ông Sơn Song Sơn: Cảm nhận đầu tiên của tôi là người dân Cà Mau có truyền thống đoàn kết. Truyền thống đó đã tạo nên động lực mạnh mẽ, thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương đã và đang trên đà phát triển tốt, là một trong những tỉnh có sản lượng khai thác, nuôi trồng và xuất khẩu thủy hải sản lớn nhất vùng. Trong tương lai, Cà Mau sẽ trở thành tỉnh có nền công nghiệp phát triển. Để Cà Mau vừa phát triển nhanh, vừa giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, ngoài việc tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội chung trên địa bàn tỉnh, đối với vùng đồng bào dân tộc Khmer, Đảng bộ Cà Mau cần tập trung thực hiện tốt những vấn đề như tôi đã đề cập trong phần định hướng trên. Trong đó đặc biệt quan tâm việc đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội; tạo điều kiện để lao động học nghề và việc làm, chuyển phần lớn lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp và dịch vụ với tỷ lệ hợp lý theo hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất của địa phương. Nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tạo điều kiện về cơ sở vật chất, để đồng bào có nơi sinh hoạt văn hóa, tôn giáo. Quan tâm xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, nhất là công tác cán bộ và phát triển đảng viên, hội viên các đoàn thể chính trị. Có kế hoạch sử dụng số sinh viên tốt nghiêp ra trường, nhất là sinh viên dân tộc Khmer hệ cử tuyển, để đào tạo, bổ sung nguồn cán bộ dân tộc các cấp của tỉnh. Tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị 06/2008/CT-TTg, ngày 1-2-2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tranh thủ chức sắc các tôn giáo và người có uy tín trong dân tộc.

Đồng bào các dân tộc ở Cà Mau có truyền thống đoàn kết lâu đời, truyền thống đó được Đảng ta phát huy cao độ trong suốt thời kỳ chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đảng bộ Cà Mau cần tiếp tục phát huy hơn nữa truyền thống đoàn kết tốt đẹp này, nhằm tập trung khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng, thế mạnh của địa phương.

PV: Cảm ơn ông!.

CHÍ BẮC – Thực hiện


TRẦN TUẤN – CHÍ BẮC

An Giang: Hỗ trợ đồng bào Khmer nuôi heo dưới tán rừng


Huyện Tri Tôn đang triển khai mô hình hỗ trợ heo lai có nguồn gốc từ huyện Cưmra, tỉnh Đăk Lăk cho đồng bào Khmer nuôi dưới tán rừng. Con giống heo rừng được huyện mua về cấp miễn phí cho bà con, đồng thời còn hỗ trợ làm chuòng trại. Đây là mô hình mới có hiệu quả đang được triển khai nhân rộng ở tỉnh An Giang. Theo các hộ nuôi heo lai cho biết, heo lai có nhiều ưu điểm hơn heo địa phương, tỷ lệ nạc cao, thời gian nuôi ngắn từ 2-4 tháng trọng lượng từ 8-15kg/con. Theo tính toán của bà con, hiện nay giá heo thịt là 150.000đồng/kg, con giống là 200.000đồng/kg, từ chi phí còn lãi 70%.


Lê Hoàng Vũ

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2009

Việt Nam-Campuchia hợp tác kế hoạch và đầu tư



Bản ghi nhớ hợp tác về ngành kế hoạch và đầu tư giữa Việt Nam-Campuchia năm 2009 đã được ký tại cuộc hội đàm giữa đoàn Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam do Bộ trưởng Võ Hồng Phúc làm trưởng đoàn và đoàn Bộ Kế hoạch Vương quốc Campuchia do Bộ trưởng Chhay Than làm trưởng đoàn.
Theo Bản ghi nhớ, hai bộ sẽ phối hợp chặt chẽ trong việc xây dựng và điều hành kế hoạch để làm tốt công tác tham mưu cho Chính phủ hai nước. Năm nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam sẽ mời các quan chức của Bộ Kế hoạch Campuchia sang Việt Nam giao lưu tại một tỉnh giáp biên giới hai nước.
Hai bên sẽ phối hợp trao đổi và học tập kinh nghiệm trên các lĩnh vực liên quan đến chuyên ngành kế hoạch của hai nước; tăng cường năng lực cán bộ thông qua công tác đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn và tham quan khảo sát giữa hai Bộ. Phía Việt Nam sẽ giúp đào tạo cán bộ kế hoạch của Campuchia sang học tập và trao đổi thực tế tại Việt Nam thông qua chỉ tiêu đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn bằng nguồn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Việt Nam dành cho Chính phủ Hoàng gia Campuchia.
Hai bên cũng sẽ hợp tác trao đổi các ấn phẩm, thông tin, tư liệu nghiệp vụ và các văn bản ban hành về nghiệp vụ kế hoạch.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, trong hợp tác giữa hai nước, lĩnh vực giáo dục và đào tạo được ưu tiên hàng đầu và đã được cả hai nước Việt Nam và Campuchia đặc biệt quan tâm.
Năm 2008, Chính phủ Việt Nam đã viện trợ không hoàn lại cho Chính phủ Hoàng gia Campuchia 90 tỷ đồng, trong đó có 73 tỷ đồng dành cho đào tạo và 17 tỷ đồng dành cho các dự án tại Campuchia.
Ngoài số suất học bổng đã được thỏa thuận tại kỳ họp Ủy ban hỗn hợp liên Chính phủ lần thứ 9, Việt Nam còn cấp bổ sung thêm cho các ngành giáo dục, văn hoá, thể thao và thanh tra, nâng số học sinh Campuchia được cấp học bổng năm 2008 lên gần 1.860 người.
Quan hệ thương mại đầu tư giữa hai nước cũng tăng lên. Kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều năm 2008 đạt 1,7 tỷ USD, tăng 42% so với năm 2007. Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam tại Campuchia ngày càng được quan tâm và đã có 39 dự án của Việt Nam được Chính phủ Campuchia cấp giấy phép, với số vốn thực hiện hơn 211 triệu USD./.
(TTXVN/Vietnam+)

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2009

Sóc Trăng cần tập trung đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế


Ngày 25-2, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã làm việc với lãnh đạo chủ chốt tỉnh Sóc Trăng về tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2008, việc triển khai thực hiện Nghị quyết 49-NQ/T.Ư của Bộ Chính trị về chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020.

Cùng làm việc với Chủ tịch nước có Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Nguyễn Văn Chiền, đại diện lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Ðầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.


Phát biểu ý kiến tại buổi làm việc, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đề nghị tỉnh Sóc Trăng cần tập trung đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Dù là tỉnh thuần nông, nhưng tỷ trọng nông nghiệp, thủy sản chiếm hơn 50% cơ cấu kinh tế như hiện nay là khá cao. Tỉnh cần phát huy thế mạnh của cơ sở nghiên cứu, lai tạo giống lúa mới để ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp; tiếp tục đẩy mạnh nuôi tôm theo hướng công nghiệp, qua đó thu hẹp bớt diện tích nuôi trồng nhưng vẫn bảo đảm tăng về sản lượng, giá trị hàng hóa. Chủ tịch nước đánh giá, sắp tới Sóc Trăng rất thuận lợi về thu hút đầu tư, nhờ có hạ tầng giao thông thuận tiện khi sân bay Trà Nóc, cầu Cần Thơ hoàn thành. Vì vậy, ngay từ bây giờ, tỉnh cần tích cực cải thiện môi trường đầu tư, chuẩn bị tốt hạ tầng để thu hút các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước.


Về những hạn chế, yếu kém của Sóc Trăng, Chủ tịch nước cho rằng, khó khăn hiện nay là quy mô kinh tế của tỉnh còn nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu. GDP bình quân đầu người mới bằng khoảng ba phần tư mức bình quân cả nước. Vì vậy, bên cạnh nỗ lực của địa phương, Chủ tịch nước đề nghị các bộ, ngành Trung ương tích cực hỗ trợ Sóc Trăng trong một số dự án lớn như cảng nước sâu, khu kinh tế biển. Cảng nước sâu và khu kinh tế biển sẽ tạo kết cấu hạ tầng phục vụ việc sản xuất và vận chuyển hàng hóa, giảm chi phí đầu vào và hạ giá thành sản phẩm, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói riêng, vùng Tây Nam Bộ nói chung.


Trong bối cảnh kinh tế trong nước, thế giới còn nhiều phức tạp, diễn biến khó lường, Chủ tịch nước lưu ý tỉnh Sóc Trăng cần quan tâm hơn nữa bảo đảm ổn định đời sống, các điều kiện hưởng thụ văn hóa, xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là đối với đồng bào Khmer. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Khmer ở Sóc Trăng còn cao. Các cấp chính quyền cần đẩy mạnh việc tuyên truyền, vận động để nhân dân hiểu rõ các chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước, tập trung chăm lo sản xuất, nâng cao đời sống, không bị kẻ xấu lôi kéo, kích động.


Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết hoan nghênh cố gắng của khối tư pháp tỉnh Sóc Trăng trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết 49-NQ/T.Ư. Các cấp chính quyền, cơ quan tư pháp đã có chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, tổ chức, bộ máy từng bước được kiện toàn, thực hiện tốt quy chế phối hợp trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và giải quyết các loại án, khiếu kiện tư pháp. Chủ tịch nước đề nghị các ngành chức năng của tỉnh cần chú trọng kiện toàn tổ chức bộ máy tư pháp, đào tạo và bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề của đội ngũ cán bộ tư pháp; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc của các cơ quan tư pháp.


Ðến thăm Hội đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng, chùa Mahatup (chùa Dơi), chùa Khleang Sóc Trăng và trường Bổ túc văn hóa trung cấp Pali Nam Bộ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết hoan nghênh Hội đoàn kết sư sãi yêu nước và các sư sãi Phật giáo nam tông Khmer đã tích cực tổ chức nhiều hoạt động củng cố tình đoàn kết giữa người có đạo và người không theo đạo, giữa đồng bào Khmer và các dân tộc khác ở tỉnh. Ðặc biệt, Hội đã tích cực đấu tranh, ngăn chặn các luận điệu kích động đồng bào Khmer chống Nhà nước, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chủ tịch nước nhấn mạnh: Ðoàn kết vốn là truyền thống quý báu của dân tộc ta, có ý nghĩa hết sức to lớn. Nhờ sự đoàn kết, chúng ta đã đánh thắng hết kẻ thù này đến kẻ thù khác. Không có gì có thể chia rẽ đồng bào Khmer với đồng bào các dân tộc khác.


Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết vui mừng khi thấy cuộc sống của bà con Khmer ở Sóc Trăng ngày càng được nâng cao. Các cấp chính quyền quan tâm, tạo thuận lợi cho sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hỗ trợ xây dựng nhiều công trình thờ tự. Các chùa Phật giáo nam tông Khmer thường xuyên tổ chức những chương trình hướng dẫn đồng bào nắm bắt khoa học kỹ thuật nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong lao động sản xuất; động viên nhau trong cuộc sống, giúp nhau xóa đói, giảm nghèo. Khẳng định chủ trương của Ðảng và Nhà nước là tạo điều kiện cho những người tu hành hoạt động theo đúng Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, theo luật của đạo, Chủ tịch nước mong đồng bào Khmer luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Ðảng, cùng các dân tộc anh em xây dựng đất nước.

TTXVN

Đại đoàn kết để phát triển địa phương

(SGGP). – Ngày 25-2, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã đến thăm và làm việc tại tỉnh Sóc Trăng. Chủ tịch nước đã thăm và tặng quà cho Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng và chùa Dơi. Chủ tịch nước biểu dương các vị hòa thượng, sư sãi đã gắn kết với người dân sống “tốt đời, đẹp đạo”, tổ chức nhiều hoạt động xã hội thiết thực góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh và hạ tỷ lệ hộ Khmer nghèo toàn tỉnh xuống còn 28%.

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết động viên Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước Sóc Trăng và các chùa tiếp tục hỗ trợ, giúp đỡ con em đồng bào Khmer trong học tập, từng bước nâng cao trình độ học vấn trong cộng đồng người Khmer Nam bộ. Dịp này, Chủ tịch nước đã trao nhiều phần quà tặng đại diện chùa Khơ-leng và chùa Dơi.

Chiều cùng ngày, tại buổi làm việc với lãnh đạo chủ chốt tỉnh Sóc Trăng. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết yêu cầu tỉnh Sóc Trăng quyết liệt đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Chuẩn bị cơ sở hạ tầng, đưa ra chính sách thông thoáng để thu hút mạnh các nguồn đầu tư trong và ngoài nước, trong đó, phải có bước đột phá trong thu hút đầu tư lĩnh vực giao thông.

Cùng ngày, đến thăm và làm việc với Công ty cổ phần Thủy sản Sóc Trăng (Stapimex), Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã gợi ý cho lãnh đạo công ty liên kết, đầu tư với nông dân nuôi tôm sú để hình thành các vùng nuôi tôm phát triển bền vững.

CAO PHONG

Sóc Trăng: Trên 64 tỉ đồng hỗ trợ tín dụng cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo



Thực hiện chính sách an sinh xã hội theo Quyết định 31,32 của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Sóc Trăng dự kiến hỗ trợ trên 64 tỉ đồng hỗ trợ tín dụng giai đoạn 2009-2010 cho các hộ nghèo người dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn tỉnh.

Ông Lê Văn Cần, Phó chủ tịch UBND tỉnh cho biết: Để nguồn vốn tín dụng theo các Quyết định của Chính phủ thực sự phát huy hiệu quả, ngay từ cuối năm 2008, tỉnh đã chỉ đạo các địa phương rà soát lại các hộ nghèo và cận nghèo cũng như những hộ nghèo mới phát sinh để kịp thời giúp bà con tạo công ăn việc làm ổn định cuộc sống. Bên cạnh đó, các đoàn thể và các ngành cùng bà con xây dựng các mô hình sản xuất phù hợp với năng lực từng hộ và theo nhu cầu phát triển kinh tế của từng vùng miền; bảo đảm các hộ được vay đều sử dụng vốn đúng mục đích, tăng thu nhập cho bà con.

Nét mới của việc sử dụng nguồn vốn năm nay là tùy theo điều kiện các địa phương tiến hành chọn ấp làm thí điểm để xây dựng các mô hình sản xuất đạt hiệu quả từ đó nhân rộng mô hình ra từng xã, phường. Hiện nay, đã có 73 mô hình sản xuất đang phát huy hiệu quả như trồng rau, màu sạch, chăn nuôi các loại như tôm càng xanh, các loại cá đồng có giá trị kinh tế cao cho thu nhập ổn định... và có gần 6.000 hộ đang hưởng lợi để thoát nghèo một cách bền vững.

TẤN HUẤN (TTXVN)

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Sóc Trăng cần tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế




Ngày 25-2, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã làm việc với lãnh đạo chủ chốt tỉnh Sóc Trăng về tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2008, việc triển khai thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020. Cùng làm việc với Chủ tịch nước có Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Nguyễn Văn Chiền, đại diện lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Phát biểu tại buổi làm việc, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đề nghị tỉnh Sóc Trăng cần tập trung đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Dù là tỉnh thuần nông, nhưng tỷ trọng nông nghiệp, thủy sản chiếm trên 50% cơ cấu kinh tế như hiện nay là khá cao. Tỉnh cần phát huy tối đa thế mạnh của cơ sở nghiên cứu, lai tạo giống lúa mới để ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp; tiếp tục đẩy mạnh nuôi tôm theo hướng công nghiệp, qua đó thu hẹp bớt diện tích nuôi trồng nhưng vẫn bảo đảm tăng về sản lượng, giá trị hàng hóa. Chủ tịch nước đánh giá Sóc Trăng tới đây rất thuận lợi về thu hút đầu tư, nhờ có hạ tầng giao thông thuận tiện khi sân bay Trà Nóc, cầu Cần Thơ hoàn thành. Vì vậy, ngay từ bây giờ, tỉnh cần tích cực cải thiện môi trường đầu tư, chuẩn bị tốt hạ tầng để thu hút các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước.

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đến thăm Hội đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng. Ảnh: NGUYỄN KHANG - TTXVN

Trong bối cảnh kinh tế trong nước, thế giới còn nhiều phức tạp, diễn biến khó lường, Chủ tịch nước lưu ý tỉnh Sóc Trăng cần quan tâm hơn nữa bảo đảm ổn định đời sống, các điều kiện hưởng thụ văn hóa, xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là đối với đồng bào Khmer. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Khmer ở Sóc Trăng còn cao. Các cấp chính quyền cần đẩy mạnh việc tuyên truyền, vận động để nhân dân hiểu rõ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tập trung chăm lo sản xuất, nâng cao đời sống, không bị kẻ xấu lôi kéo, kích động.

Dịp này, Chủ tịch nước đã đến thăm Hội đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng, chùa Mahatup (chùa Dơi), chùa Khleang Sóc Trăng và trường Bổ túc văn hóa trung cấp Pali Nam Bộ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết hoan nghênh Hội đoàn kết sư sãi yêu nước và các sư sãi Phật giáo nam tông Khmer đã tích cực tổ chức nhiều hoạt động củng cố tình đoàn kết giữa người có đạo và người không theo đạo, giữa đồng bào Khmer và các dân tộc khác ở tỉnh. Chủ tịch nước mong đồng bào Khmer luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, cùng các dân tộc anh em xây dựng đất nước.

DƯƠNG ĐỨC DŨNG (TTXVN)

Thứ Năm, 19 tháng 2, 2009

NHỮNG NÔNG DÂN KHMER THỜI HIỆN ĐẠI

Những năm qua, Sóc Trăng xuất hiện ngày càng nhiều nông dân người Khmer áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, tạo chuyển biến mạnh mẽ trên mặt trận nông nghiệp. Xin giới thiệu hai người trong số họ.

Anh Kim Thái Thông ở ấp Bưng Thum, xã Long Phú (Long Phú) là một trong những hộ sản xuất, kinh doanh giỏi. Nhờ biết cách làm ăn, chi tiêu tiết kiệm, đến nay gia đình anh đã có 44ha đất chuyên trồng lúa. Vụ hè thu vừa qua, trong khi nhiều mảnh ruộng của bà con chung quanh bị rầy nâu, bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá, ruộng lúa của anh vẫn bình an vô sự vì anh đã áp dụng kỹ thuật “ba tăng - ba giảm” và quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), chăm sóc đúng cách. Cũng nhờ sử dụng giống lúa có tính kháng rầy nên năm nào anh cũng có lời hơn 200 triệu đồng.

Ở ấp Phước An, xã Phú Tân (Mỹ Tú) ai cũng biết anh Thạch Bal, một nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi nhiều năm liền. Năm 1986, Bal lập gia đình, đến năm 1990, anh dành dụm được 500.000 đồng và mượn của người quen 2.000m2 đất để trồng dưa hấu. Cuối vụ anh thu được 8 tấn trái, bán với giá 2.000 đồng/kg, trừ chi phí còn lời gần 12 triệu đồng. Từ đó, anh vận động bà con áp dụng mô hình 2 lúa một màu, anh là người tập huấn kỹ thuật. Đến nay, gia đình anh đã có 20 công ruộng, sản xuất lúa hai vụ kết hợp với trồng màu, 0,5ha ao nuôi cá kết hợp trồng sen, trên bờ trồng bưởi Năm Roi. Với mô hình trên, gia đình anh Bal có thu nhập trên 120 triệu đồng/năm.
Qua những điển hình trên, chúng ta có thể thấy: Để có thu nhập cao không khó, điều quan trọng là biết lựa chọn mô hình phù hợp và áp dụng tiến bộ kỹ thuật.
Phương Nghi

Những chuyển biến tích cực ở vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer



Dân số tỉnh Kiên Giang hiện có trên 1,7 triệu người, trong đó đồng bào dân tộc Khmer: 214.979 người, chiếm 12,68% dân số. 64 xã có đông đồng bào Khmer. 27 xã và 6 ấp được thụ hưởng Chương trình 135 (giai đoạn II) và có 53 đơn vị hành chính (xã, thị trấn) thuộc vùng khó khăn…

Các sinh hoạt văn hóa truyền thống
luôn được khuyến khích - Ảnh: BCB
Trong những năm qua, vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer được cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp rất quan tâm nên đã có những chuyển biến tích cực. Nhiều địa phương quan tâm chỉ đạo phát triển kinh tế, từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi. Thông qua các nguồn vốn đầu tư, trong năm 2008, đã mở 126 lớp tập huấn về kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi cho 3.792 lượt đồng bào dân tộc Khmer theo học. Nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nên năng suất lúa không ngừng được tăng lên; nhiều hộ thực hiện quy trình thâm canh tổng hợp với nhiều mô hình luân canh, xen canh màu và nuôi trồng thủy sản cho thu nhập bình quân đạt 35 - 40 triệu đồng /ha /năm.
Thông qua Chương trình 135 và các chương trình lồng ghép khác, đến nay đã có 63/64 xã đông đồng bào dân tộc Khmer có đường ô tô đến trung tâm xã, hệ thống thủy lợi cơ bản đảm bảo phục vụ tưới tiêu cho sản xuất. Hộ sử dụng điện và nước hợp vệ sinh cũng được nâng lên: 79,62% hộ được sử dụng điện, 77,93% hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh. Điều đáng mừng là đã có 24/42 xã rút ra khỏi danh sách các xã thuộc Chương trình 135.
Lĩnh vực văn hoá- xã hội trong vùng đồng bào dân tộc có bước phát triển. Tỷ lệ huy động học sinh là người dân tộc Khmer trong độ tuổi đến trường (từ 6-14 tuổi), đạt tỷ lệ 90%. Năm học 2008-2009 học sinh dân tộc ở 3 bậc học là 37.319/302.076 học sinh, chiếm tỷ lệ 12,37%. Thực hiện tốt chính sách cử tuyển con em dân tộc vào học các trường đại học, cao đẳng; tính riêng trong năm 2008 đã xét cử tuyển 95 em vào các trường đại học, cao đẳng, 82 em vào trường dự bị đại học tại thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, các tổ chức tín dụng và Ngân hàng chính sách xã hội đã cho 1.626 lượt hộ đồng bào dân tộc vay, với số tiền trên 30 tỷ đồng để sản xuất, kinh doanh. Xét giải quyết đất ở cho 672 hộ nghèo vào cụm tuyến dân cư vượt lũ… Nhờ đó, đời sống của đồng bào dân tộc Khmer ngày càng được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm (từ 9.483 hộ, chiếm 22,35% năm 2007 xuống còn 7.953 hộ, chiếm 18,75% năm 2008).
Việc dạy và học chữ Khmer được tỉnh rất quan tâm. Ở các trường có đông con em đồng bào dân tộc được tổ chức dạy song ngữ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ngoài ra, Ban Thường vụ Tỉnh ủy còn chủ trương những cán bộ công tác ở vùng có đông đồng bào dân tộc phải học và phải biết tiếng dân tộc để nắm và hiểu được tình hình, tâm tư nguyện vọng của đồng bào. Năm qua, toàn tỉnh đã có 216 lớp, với 5.874 học viên theo học chữ Khmer. Ngân sách tỉnh hỗ trợ 150 triệu đồng để mua sách giáo khoa Khmer ngữ và hỗ trợ 216 giáo viên là các vị sư và À cha dạy chữ Khmer trong tỉnh.
Công tác chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào được chú trọng, 60/64 xã đông đồng bào dân tộc có trạm y tế, mỗi năm tỉnh cấp gần 1 tỷ đồng để mua thuốc trị bệnh miễn phí, cấp thẻ bảo hiểm y tế, các chương trình y tế quốc gia được đồng bào hưởng ứng khá tốt. Đội ngũ cán bộ y tế là người dân tộc Khmer ngày càng phát triển, đến nay có 325 cán bộ y tế là người dân tộc Khmer, trong đó có 48 bác sĩ, 5 dược sĩ, 87 y sĩ, 72 nữ hộ sinh, 78 điều dưỡng, 01 dược tá, 26 cán bộ khác.
Bản sắc văn hoá của đồng bào dân tộc tiếp tục được gìn giữ và phát huy, các lễ hội truyền thống hàng năm được tổ chức khá tốt. Trong các ngày lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc, các cấp - các ngành đều tổ chức đoàn đi thăm và tặng quà cho các vị sư và đồng bào ở các chùa trong tỉnh... Hầu hết các chùa đều được trùng tu, xây dựng khang trang. Một số chùa có truyền thống cách mạng và vùng khó khăn được tỉnh hỗ trợ kinh phí để trùng tu, sửa chữa.
An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc được giữ vững và ổn định. Hệ thống chính trị cơ sở trong đồng bào dân tộc Khmer thường xuyên được củng cố và kiện toàn. Từ sau Đại hội Đảng các cấp, công tác chính trị, tư tưởng, công tác tuyên truyền, vận động quần chúng được các cấp ủy Đảng quan tâm. Việc tuyên truyền các sách "Lược sử vùng đất Nam bộ Việt Nam", "Việt Nam - Campuchia, mối quan hệ láng giềng hữu nghị, truyền thống", Hiệp ước về phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam - Campuchia... đã được quán triệt trong cán bộ, đảng viên, một số nơi triển khai đến các sư sãi, đồng bào Khmer, đã nhận được sự đồng tình cao.
Đến nay, cấp ủy các cấp đã xây dựng xong quy hoạch cán bộ chủ chốt là người Khmer và Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2010 - 2015. Trong đó quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý cấp tỉnh là 17/833 đồng chí, cấp huyện và tương đương 14/738 đồng chí, cấp xã, phường, thị trấn và tương đương 220/3.559 đồng chí... Hiện nay toàn tỉnh có 2.232 cán bộ công chức là người Khmer. Công tác phát triển đảng viên là người dân tộc Khmer được quan tâm, trong năm 2008 đã phát triển được 115 đảng viên, nâng tổng số đảng viên là người dân tộc Khmer có 1.326 đồng chí, chiếm 4,63% so với tổng số đảng viên trong toàn Đảng bộ; đảng viên người dân tộc Khmer được cơ cấu ở tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Công tác xây dựng, củng cố và kiện toàn Mặt trận và các đoàn thể ở cơ sở được chú trọng. Xây dựng nhiều mô hình tập hợp quần chúng trong các đoàn thể ở những nơi có đông đồng bào dân tộc, như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, các câu lạc bộ khuyến nông, câu lạc bộ làm lúa giống... Hầu hết các địa phương đều có kế hoạch vận động các chức sắc tôn giáo và người có uy tín trong đồng bào dân tộc Khmer phát huy vai trò của Hội đoàn kết sư sãi yêu nước.
Bên cạnh những kết quả đạt được vùng có đông đồng bào dân tộc còn có những tồn tại hạn chế: Tình trạng đồng bào dân tộc sang bán, cầm cố đất đai còn xảy ra ở một số nơi nhưng địa phương chưa có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Tập quán sinh hoạt, tổ chức cuộc sống được cải tiến chưa nhiều, còn một bộ phận có tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước, thiếu tự lực vươn lên. Kết cấu hạ tầng ở vùng đồng bào dân tộc vẫn còn thấp kém. Trình độ dân trí trong đồng bào chậm nâng lên, tỷ lệ huy động học sinh đến trường ở bậc trung học không cao, nhất là phổ thông trung học. Nhiều địa phương chưa quản lý được số học sinh dân tộc đang học phổ thông trung học, cao đẳng, đại học và chưa quản lý sử dụng tốt số học sinh thuộc diện cử tuyển đã tốt nghiệp ra trường. Mức hưởng thụ văn hóa trong đồng bào còn thấp; nhiều địa phương chưa có nơi sinh hoạt chính trị văn hóa, học tập cộng đồng cho nhân dân và nơi vui chơi giải trí cho thanh thiếu nhi. Y tế vệ sinh môi trường nhiều vùng chưa đảm bảo, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong đồng bào Khmer còn cao…
Để vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer phát triển nhanh hơn nữa trong thời gian tới, cần phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị quan tâm chăm lo nhằm tạo điều kiện cho vùng này phát triển một cách toàn diện, vững chắc. Trong đó tập trung chỉ đạo có hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo; quan tâm giáo dục đồng bào xóa bỏ những tập quán sản xuất, sinh hoạt lạc hậu, tiêu xài chưa tiết kiệm, phát huy ý chí tự lực tự cường, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đi đôi với đẩy mạnh việc huy động các nguồn lực và thực hiện tốt việc đầu tư xây dựng các công trình thiết yếu; trước hết là kết cấu hạ tầng như cầu, đường giao thông nông thôn, thủy lợi, điện, nước sạch, trạm xá, trường học, chợ... Chăm lo công tác giáo dục, nâng cao trình độ dân trí trong đồng bào dân tộc và quan tâm đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho địa phương: Tạo điều kiện thuận lợi cho con em người dân tộc tiếp tục theo học cấp III; thực hiện tốt việc cử tuyển học sinh dân tộc vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh theo địa chỉ để về công tác ở địa phương. Tăng cường công tác nắm tình hình, phát hiện xử lý ngăn chặn kịp thời và làm thất bại âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch. Đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, ngăn chặn có hiệu quả việc qua lại biên giới trái phép của đồng bào Khmer. Quan tâm giải quyết kịp thời các vụ tranh chấp, khiếu kiện có liên quan đến dân tộc. Thường xuyên củng cố xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở để làm tốt vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị toàn diện ở cơ sở. Đẩy mạnh công tác phát triển Đảng trong người dân tộc. Từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở vùng đồng bào dân tộc đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
Vùng có đông đồng bào dân tộc phát triển và ổn định sẽ góp phần quan trọng để đẩy nhanh cho các vùng khác cùng phát triển. Hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc; vì vậy chăm lo cuộc sống cho đồng bào dân tộc Khmer nói riêng và nhân dân nói chung là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị.
Nguyễn Văn Hiền

Mong Thọ B: Làm tốt công tác xây dựng đời sống văn hóa


Về xã Mong Thọ B - huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang vào những ngày đầu Xuân Kỷ Sửu năm 2009 để cảm nhận sự thay da, đổi thịt đang diễn ra tại vùng quê này…
Đời sống kinh tế ngày một khá

Mong Thọ B có trên 3.000 hộ dân với 85,16% dân tộc Kinh, 12,74% dân tộc Khmer và 2,1% dân tộc Hoa. Nhân dân nơi đây chủ yếu gắn bó với đồng ruộng, chăn nuôi, phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ.
Những năm qua, Đảng bộ xã luôn quan tâm lãnh đạo UBND, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích nhân dân trong xã đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Xã thường phối hợp với các ngành chuyên môn của huyện tổ chức các lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật để nhân dân áp dụng trong sản xuất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi. Đồng thời mạnh dạn tập trung phát triển các mô hình kinh tế tập thể, tạo điều kiện cho nhân dân vay vốn sản xuất để từng bước xóa đói, giảm nghèo. Ngoài 01 hợp tác xã nông nghiệp đang hoạt động rất hiệu quả, hiện xã có 05 tổ hợp tác sản xuất; 21 tổ bơm tát tập thể; 02 câu lạc bộ (CLB) cánh đồng cho lợi nhuận từ 30-50 triệu đồng/ha; 05 CLB nuôi cá; 01 CLB trồng nấm; 05 CLB tiểu thương và rất nhiều mô hình góp vốn xoay vòng của các hội đoàn thể. Đặc biệt, mô hình CLB cánh đồng cho lợi nhuận 30- 50 triệu đồng/ha và mô hình nuôi cá nước ngọt đã và đang mang lại lợi nhuận khá. Chỉ tính riêng năm 2008 từ CLB cánh đồng này ấp Phước Ninh thu lãi bình quân 52 triệu đồng/ha; CLB nuôi cá nước ngọt ấp Phước Hòa thu hoạch 2 vụ/ năm thu lãi 800 triệu đồng.
Cùng với việc vận dụng đồng bộ các chủ trương của Đảng và Nhà nước để mở rộng và phát triển kinh tế, từng bước xóa nghèo, hàng năm xã còn tạo điều kiện cho hơn 300 lao động có việc làm ổn định trong và ngoài tỉnh. Do vậy số hộ có đời sống kinh tế ổn định chiếm tỷ lệ 91,35%; có 86,68% số hộ có nhà ở kiên cố và bán kiên cố. Lương thực bình quân trên đầu người đạt 1.127 kg thóc/năm, tăng 82 kg so với năm 2006. Nếu như tỷ lệ hộ nghèo trong xã năm 2006 còn 7,19% thì đến năm 2008 tỷ lệ này giảm còn 3,55%.

Đời sống văn hóa phong phú

Đến Mong Thọ B bây giờ ta dễ dàng bắt gặp những tụ điểm sinh hoạt văn hóa văn nghệ hết sức thú vị mà diễn viên cũng thật đa dạng, phong phú. Vẫn biết ca cổ được hầu hết bà con Nam bộ nói chung, các vùng quê ở Kiên Giang nói riêng đều mê. Ai ai cũng ít nhiều thuộc vài câu nằm lòng để có dịp trổ tài với bà con lối xóm và du khách gần xa. Tiềm năng dồi dào nhưng chỉ tiếc Mong Thọ B chưa có nhiều mô hình CLB đờn ca tài tử. Hiện xã mới có 01 CLB đờn ca tài tử, 01 nhóm ca khúc cách mạng và 01 CLB gia đình văn hóa. Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển khá, có 878 hộ gia đình thể thao, 09 sân bóng chuyền, 06 sân bóng đá mini. Đội bóng chuyền, bóng đá và đội văn nghệ của xã thường xuyên tham gia tranh tài tại các cuộc hội thao, hội diễn do huyện tổ chức. Bằng vốn sách do ngành VHTTDL tỉnh hỗ trợ và xã đầu tư, Thư viện xã có 550 cuốn sách gồm nhiều thể loại phục vụ tốt nhu cầu giải trí, tìm tòi áp dụng khoa học kỹ thuật từ sách vào việc chăn nuôi, trồng trọt của bà con trong và ngoài xã. Một số tủ sách ấp cũng phát huy được hiệu quả phục vụ cộng đồng. Hàng năm số hộ được công nhận gia đình văn hóa đều tăng; năm 2008 có 95% gia đình văn hóa, 99/100 tổ văn hóa, 5/5 ấp đạt ấp văn hóa và khu dân cư tiên tiến. Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội của xã được thực hiện tốt; không có tệ nạn xã hội nghiêm trọng, phức tạp, không xảy ra mê tín dị đoan; không có các tụ điểm ma tuý, mại dâm. 5/5 ấp đều xây dựng bảng Quy ước được UBND huyện phê duyệt và được nhân dân đồng tình thực hiện đạt hiệu quả.
Về giáo dục, nhờ tranh thủ mọi nguồn lực hỗ trợ đã xây dựng mới được 12 phòng học; vận động nhân dân đóng góp sửa chữa các công trình phụ như nhà vệ sinh, sân chơi, đường thoát nước.. với số tiền trên 200 triệu đồng. Trang thiết bị dạy học ngày càng được tăng cường nên việc dạy và học từng bước có chất lượng, số học sinh đạt tỷ lệ khá giỏi năm học vừa qua chiếm 98%. Năm 2007, Trường Tiểu học Mong Thọ B2 được công nhận đạt chuẩn Quốc gia; 02 trường còn lại đều đạt tiêu chuẩn sạch, đẹp, an toàn. Năm 2007 Trạm Y tế xã được xây dựng mới có 01 bác sỹ, 02 y sỹ, 01 nữ hộ sinh và 01 trung cấp Đông y và đã được công nhận đạt chuẩn Quốc gia. Cùng với Tổ Y tế các ấp và lực lượng cộng tác viên, ba năm qua Trạm Y tế xã đã áp dụng kịp thời các biện pháp phòng chống dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm, không để dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn. Thường xuyên duy trì tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, tổ chức khám và điều trị cho gần 32.000 người, châm cứu bấm huyệt cho trên 7.200 người. Thực hiện các chương trình y tế Quốc gia, y tế cộng đồng đầy đủ và đạt chỉ tiêu đề ra; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ 17,6% năm 2006, nay giảm còn 13,5%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,3%. Đặc biệt, xã được “Dự án phòng chống bệnh truyền nhiễm tiểu vùng sông MêKông” của tỉnh chọn làm điểm thực hiện chương trình phòng chống sốt xuất huyết dựa vào cộng đồng, đã tuyên truyền được 09 cuộc có trên 3.200 lượt người tham gia tuyên truyền, diệt lăng quăng… Số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh chiếm 88%; năm 2007 đã cấp 424 dụng cụ chứa nước cho hộ dân tộc Khmer nghèo theo Quyết định 134 của Thủ tướng Chính phủ.

Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội

Không chỉ từng bước nâng cao đời sống kinh tế, văn hoá, xóa đói, giảm nghèo, Đảng bộ, UBND xã Mong Thọ B đã và đang thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Trong ba năm đã vận động nhân dân tham gia đóng góp các nguồn quỹ vì người nghèo, quỹ đền ơn đáp nghĩa được gần 250 triệu đồng. Từ nguồn quỹ này đã cất 05 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa 08 căn nhà cho các hộ chính sách, cất 100 căn nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo, trong đó có 46 căn cho hộ nghèo dân tộc Khmer thuộc diện 134. Xã còn kết hợp với các đoàn của huyện, tỉnh tổ chức thăm hỏi và tặng quà nhân các ngày lễ, tết cho 152 lượt gia đình chính sách với số tiền 56,7 triệu đồng; trợ cấp khó khăn đột xuất, hỗ trợ tiền điều dưỡng cho 18 hộ số tiền 10 triệu đồng; xét cấp nhà ở trong khu dân cư cho 22 hộ chính sách. Đến nay các gia đình thuộc đối tượng chính sách trong xã đều có nhà ở và cuộc sống ổn định.
Ngoài các hoạt động trên, các cơ quan ban ngành, đoàn thể trong xã vận động các tổ chức, cá nhân cứu trợ cho hộ nghèo được 18,5 tấn gạo, quần áo, mùng mền…với tổng trị giá trên 200 triệu đồng; vận động 15 triệu đồng giúp đỡ các hộ bị sập nhà, tốc mái do mưa bão.
Với những kết quả đáng ghi nhận trong ba năm (2006- 2008), vừa qua Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tỉnh đã tiến hành phúc tra, chuẩn bị hồ sơ đề nghị tỉnh công nhận xã đạt tiêu chuẩn về xây dựng đời sống văn hóa ba năm liên tục.
Bình Nguyên

Nông dân Khmer Bạc Liêu trúng đậm mùa dưa hấu


Hiện nay, nhiều hộ Khmer ở khóm 1, khóm Trà Kha, phường 8, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đang thu hoạch dưa hấu sớm trồng trên ruộng lúa. Năm nay, dù thời tiết không thuận lợi nhưng năng suất dưa hấu đạt khá và đặc biệt giá dưa hấu cao, đem lại lợi nhuận gầp 2-3 lần so với trồng lúa.
Anh Sơn Dũng ở khóm 1 trồng 2 công dưa hấu trên ruộng lúa. Sau hơn 2 tháng chăm sóc, đến giữa tháng 12/2008, anh thu hoạch 2 công dưa hấu, đạt năng suất hơn 4 tấn. Với giá bán tại ruộng 3.600 đồng/kg, 2 công dưa hấu cho thu nhập hơn 15 triệu đồng, trừ chi phí anh lãi gần 10 triệu đồng. Anh phấn khởi nói: “Năm nay, do thời tiết bất thường nên dưa hấu không sai quả bằng năm ngoái. Chi phí mỗi công dưa cũng tăng khoảng 30% nhưng nhờ thu hoạch vào dịp Tết Dương lịch, bán giá cao hơn nên nông dân vẫn có lãi khá”. Tương tự, anh Thạch Sinh ở cùng khóm cũng vừa thu hoạch 1 công dưa hấu, bán được hơn 6 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí, anh lãi hơn 3 triệu đồng. Anh đang trồng tiếp đợt dưa hấu thứ 2 để bán vào dịp rằm tháng Giêng.
Dẫn tôi thăm 2 công dưa hấu đang thu hoạch, nâng niu những trái dưa bóng láng, to tròn, anh Vu Vàng cho biết dưa hấu trồng trên ruộng lúa, năng suất thấp nhất cũng đạt 2 tấn trái/công. Với giá bán như hiện nay, mỗi công dưa hấu cho lợi nhuận gấp 2-3 lần trồng lúa. Phần lớn người trồng dưa hấu nơi đây đều sử dụng màng phủ nông nghiệp, áp dụng IPM trong phòng trừ sâu bệnh nên cũng giảm chi phí đáng kể. Người dân nơi đây còn tự tạo giống dư hấu để trồng bằng cách ghép giống dưa hấu với bầu do các nhà khoa học ở Khoa Nông nghiệp, trường Đại học Cần Thơ hướng dẫn. Anh Vàng và vợ là chị Thạch Thị Bé Ba cũng học và ghép thành công, trồng nhiều vụ dưa hấu đạt hiệu quả cao.
Hơn 10 năm trồng dưa hấu, ông Thạch Đen ở khóm Trà Kha, phường 8, thị xã Bạc Liêu là người có nhiều kinh nghiệm trong trồng dư hấu bán Tết nên ruộng dưa ông luôn đạt năng suất cao. Theo ông Đen, để dưa hấu đạt năng suất cao, ngoài việc chú ý chọn giống đạt năng suất, chất lượng, trong quá trình trồng phải chú ý đến yếu tố thời tiết để có cách hạn chế ảnh hưởng và chế độ chăm sóc phân, nước theo 4 đúng. Hiện 4 công dưa hấu của ông đang phát triển tốt, trái to, đều và sẽ thu hoạch cuối tháng 12-2008, năng suất đạt khoảng 3 tấn/công. Với giá bán hơn 3.000 đồng/kg, 4 công dưa cho thu khoảng 40 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí, ông còn lãi gần 30 triệu đồng. Nhờ trồng dưa hấu, nhiều hộ Khmer nơi đây có cuộc sống ổn định, vươn lên khá giàu.
Phường 8, TX Bạc Liêu hiện có hơn 20 hộ Khmer trồng dưa hấu trên ruộng lúa, với diện tích trên 10 ha. Đây là vùng trồng dưa truyền thống và có tiếng của Bạc Liêu. Kỹ sư Trần Tú Quỳnh, cán bộ nông nghiệp thị xã Bạc Liêu tăng cường về phường 8 cho biết: “Thị xã Bạc Liêu khuyến khích người dân đưa màu xuống ruộng, đặc biệt là trồng dưa hấu trên ruộng lúa bằng cách hỗ trợ kỹ thuật, giống… Ngoài việc dưa hấu cho lợi nhuận cao hơn trồng lúa, việc luân canh cây trồng giúp đất giữ được độ tơi xốp, màu mỡ, hạn chế được sâu bệnh”.
Minh Đạt

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2009

Nông dân Khmer Bạc Liêu trúng đậm mùa dưa hấu




Anh Sơn Dũng ở khóm 1 trồng 2 công dưa hấu trên ruộng lúa. Sau hơn 2 tháng chăm sóc, đến giữa tháng 12/2008, anh thu hoạch 2 công dưa hấu, đạt năng suất hơn 4 tấn. Với giá bán tại ruộng 3.600 đồng/kg, 2 công dưa hấu cho thu nhập hơn 15 triệu đồng, trừ chi phí anh lãi gần 10 triệu đồng. Anh phấn khởi nói: “Năm nay, do thời tiết bất thường nên dưa hấu không sai quả bằng năm ngoái. Chi phí mỗi công dưa cũng tăng khoảng 30% nhưng nhờ thu hoạch vào dịp Tết Dương lịch, bán giá cao hơn nên nông dân vẫn có lãi khá”. Tương tự, anh Thạch Sinh ở cùng khóm cũng vừa thu hoạch 1 công dưa hấu, bán được hơn 6 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí, anh lãi hơn 3 triệu đồng. Anh đang trồng tiếp đợt dưa hấu thứ 2 để bán vào dịp rằm tháng Giêng.

Dẫn tôi thăm 2 công dưa hấu đang thu hoạch, nâng niu những trái dưa bóng láng, to tròn, anh Vu Vàng cho biết dưa hấu trồng trên ruộng lúa, năng suất thấp nhất cũng đạt 2 tấn trái/công. Với giá bán như hiện nay, mỗi công dưa hấu cho lợi nhuận gấp 2-3 lần trồng lúa. Phần lớn người trồng dưa hấu nơi đây đều sử dụng màng phủ nông nghiệp, áp dụng IPM trong phòng trừ sâu bệnh nên cũng giảm chi phí đáng kể. Người dân nơi đây còn tự tạo giống dư hấu để trồng bằng cách ghép giống dưa hấu với bầu do các nhà khoa học ở Khoa Nông nghiệp, trường Đại học Cần Thơ hướng dẫn. Anh Vàng và vợ là chị Thạch Thị Bé Ba cũng học và ghép thành công, trồng nhiều vụ dưa hấu đạt hiệu quả cao.

Hơn 10 năm trồng dưa hấu, ông Thạch Đen ở khóm Trà Kha, phường 8, thị xã Bạc Liêu là người có nhiều kinh nghiệm trong trồng dư hấu bán Tết nên ruộng dưa ông luôn đạt năng suất cao. Theo ông Đen, để dưa hấu đạt năng suất cao, ngoài việc chú ý chọn giống đạt năng suất, chất lượng, trong quá trình trồng phải chú ý đến yếu tố thời tiết để có cách hạn chế ảnh hưởng và chế độ chăm sóc phân, nước theo 4 đúng. Hiện 4 công dưa hấu của ông đang phát triển tốt, trái to, đều và sẽ thu hoạch cuối tháng 12-2008, năng suất đạt khoảng 3 tấn/công. Với giá bán hơn 3.000 đồng/kg, 4 công dưa cho thu khoảng 40 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí, ông còn lãi gần 30 triệu đồng. Nhờ trồng dưa hấu, nhiều hộ Khmer nơi đây có cuộc sống ổn định, vươn lên khá giàu.

Phường 8, TX Bạc Liêu hiện có hơn 20 hộ Khmer trồng dưa hấu trên ruộng lúa, với diện tích trên 10 ha. Đây là vùng trồng dưa truyền thống và có tiếng của Bạc Liêu. Kỹ sư Trần Tú Quỳnh, cán bộ nông nghiệp thị xã Bạc Liêu tăng cường về phường 8 cho biết: “Thị xã Bạc Liêu khuyến khích người dân đưa màu xuống ruộng, đặc biệt là trồng dưa hấu trên ruộng lúa bằng cách hỗ trợ kỹ thuật, giống… Ngoài việc dưa hấu cho lợi nhuận cao hơn trồng lúa, việc luân canh cây trồng giúp đất giữ được độ tơi xốp, màu mỡ, hạn chế được sâu bệnh”.

Minh Đạt

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2009

Kiên Giang và Kampot tăng cường thương mại


Để đưa kinh tế khu vực biên giới phát triển mạnh trong thời gian tới, tỉnh Kiên Giang, Việt Nam và tỉnh Kampot, Campuchia thống nhất tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế cửa khẩu, xem đây là bước phát triển quan trọng trong quan hệ hợp tác đầu tư, trao đổi thương mại giữa 2 tỉnh.

Hai bên sẽ xây dựng và ký kết các văn bản hợp tác, ban hành các cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế biên mậu của 2 tỉnh.

Bên cạnh đó, hai bên tiếp tục tạo các điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách, ưu đãi cho các doanh nghiệp để đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu qua 2 cửa khẩu, phấn đấu cuối năm 2008 nâng kim ngạch biên mậu 2 chiều đạt trên 45 triệu USD, trong đó phía Kiên Giang đạt từ 42 triệu USD trở lên. Đến năm 2010, biên mậu 2 chiều đạt 100 triệu USD.

Theo Ban quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên, hơn 9 tháng qua, giá trị kim ngạch xuất khẩu tại cửa khẩu quốc tế Hà Tiên đạt gần 33,4 triệu USD, bằng 98% kế hoạch năm và tăng 2,5 lần so cùng kỳ năm 2007. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nông-hải sản, thực phẩm chế biến, hàng gia dụng, chế phẩm tẩy rửa, bánh ngọt, lạc, đổ tương.

Kim ngạch nhập khẩu cũng đạt gần 3,3 triệu USD. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là các mặt hàng gỗ, thức ăn cho tôm, hải sản, vỏ tôm, vỏ ghẹ và một số máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, xây dựng.

(TTXVN)