Thứ Năm, 19 tháng 2, 2009

Công tác chăm lo gia đình chính sách, hộ nghèo, đồng bào dân tộc Khmer



Đối tượng chính sách, hộ nghèo, đồng bào dân tộc Khmer còn khó khăn về đời sống, chiếm tỷ lệ khá lớn trong cộng đồng dân cư; vì thế cùng với chủ trương tập trung đầu tư xây dựng, phát triển, Tỉnh uỷ cũng tập trung chỉ đạo công tác xóa đói giảm nghèo, chăm lo gia đình chính sách, coi đây là nhiệm vụ xã hội vô cùng bức xúc.

Sau 5 năm thực hiện, với nhiều hình thức, biện pháp vận động trong các tầng lớp nhân dân, trong các doanh nghiệp, các tổ chức nhân đạo và sự hỗ trợ của Chính phủ, công tác xóa đói giảm nghèo, chăm lo gia đình chính sách đã có sự chuyển biến rất tích cực.



Trong 5 năm với nguồn vốn vận động được hơn 206 tỷ đồng, tỉnh đã xây dựng được 2.909 căn nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách, 9.723 căn nhà tình thương cho hộ nghèo và đồng bào dân tộc Khmer gặp khó khăn về nhà ở; ngoài ra còn sửa chữa, nâng cấp 3.308 căn nhà cho hộ Khmer và hộ nghèo. Có thể nói, đến năm 2008 Hậu Giang cơ bản hoàn thành chỉ tiêu xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa trong toàn tỉnh. Song song với sự hỗ trợ về cơ sở vật chất, 5 năm qua, tỉnh triển khai nhiều biện pháp tăng nhanh khả năng thu hút lao động đi đôi với đào tạo nghề, tạo việc làm, tạo điều kiện cho người lao động, sản xuất, kinh doanh và tham gia thị trường xuất khẩu lao động, trong năm năm đã giải quyết được việc làm cho 96.779 lao động, trong đó xuất khẩu lao động là 449 người, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề chiếm 13,1% tổng số lao động.
Cuộc sống đồng bào tôn giáo được tỉnh quan tâm. Chủ trương, chính sách về tôn giáo và tín ngưỡng được thể hiện rõ nét trong việc tỉnh đã cho phép tổ chức những lễ hội như: Lễ Phật Đản, Lễ Giáng sinh; cho phép các tổ chức tôn giáo hoạt động theo Pháp lệnh Tôn giáo và Tín ngưỡng của Nhà nước. Nhìn chung, đồng bào có đạo sống đoàn kết, chí thú làm ăn, thực hiện tôn chỉ “sống tốt đời, đẹp đạo” để cùng nhân dân trong tỉnh xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.


Tỉnh chủ trương đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng với mục tiêu hỗ trợ phát triển sản xuất để nâng dần mức sống của người dân ở các xã nghèo, vùng sâu, vùng khó khăn theo hướng phát triển bền vững, chống tái nghèo, giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo hàng năm, đến cuối năm 2008 tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 13,66%. Đây là sự cố gắng, thành tích rất lớn của công tác xoá đói giảm nghèo ở Hậu Giang.

Campuchia: Xét xử cựu thủ lĩnh Khmer đỏ


30 năm sau khi chế độ diệt chủng do Pol Pot cầm đầu bị sụp đổ, phiên tòa đầu tiên xét xử tội phạm diệt chủng ở Campuchia do Liên hợp quốc (LHQ) bảo trợ đã chính thức được mở ngày 17/2.
Ước tính, khoảng hai triệu người Campuchia đã chết vì đói, vì lao động khổ cực và bị tàn sát trong thời kỳ bốn năm Khmer Đỏ bắt người dân từ thành phố về nông thôn. Nay, những tội ác tày trời này sẽ bị đưa ra trước ánh sáng công lý.
Ngày trọng đại
Phát biểu trước báo giới hôm 16/2, người phát ngôn Toà án xét xử Khmer Đỏ Reach Sambath nói: "Đây sẽ là ngày rất trọng đại với người dân Campuchia vì là phiên toà mà họ chờ đợi suốt 30 năm đang sắp diễn ra".
Phó đồng công tố viên vụ án, ông William Smith thì cho biết, trong ngày 17/2, các quan tòa sẽ quyết định những vấn đề thủ tục và nghe các cáo trạng. Ông William Smith nói: "Phiên tòa quyết định phiên xử sẽ tiến hành như thế nào và các loại bằng chứng mà công chúng sẽ được biết. Vì vậy, dĩ nhiên đây là một ngày quan trọng. Đây là lần đầu tiên có người được đưa ra để giải thích cho những hành động tàn ác của Khmer Đỏ".
Hơn một 1.000 người đã tới tham dự phiên tòa này. Hàng trăm nhà báo, quan sát viên quốc tế cũng đã tập trung tại trụ sở tòa án để chứng kiến phiên xử. Bị cáo là Kaing Guek Eav, 67 tuổi, có biệt danh là Duch, từng là giám đốc nhà tù S-21 khét tiếng ở Phnom Penh.


Quang cảnh phiên tòa xét xử Kaing Guek Eav tại Phnom Penh

Thông tin từ báo chí cho biết, Duch bị cáo buộc đã chỉ huy các vụ thảm sát và tra tấn ít nhất 16.000 tù nhân trong những năm 1975-1979. Chỉ có 14 tù nhân trong số này được cho là đã thoát chết. Nhiều nhân chứng kể lại rằng, nơi mà Duch dùng để tử hình các tù nhân từng được gọi là "Cánh đồng chết".
Trước khi bị chuyển giao cho Tòa án xử tội diệt chủng ở Campuchia, Duch đã bị giam giữ tại một nhà tù quân sự từ ngày 10/5/1999. Trong thời gian chuẩn bị cho phiên tòa, cựu thủ lĩnh Khmer Đỏ này đã hợp tác với các nhà điều tra và hứa sẽ tiết lộ một số thông tin quan trọng về các quyết định của nhóm thủ lĩnh Khmer Đỏ.
Người ta hy vọng, thông tin của Duch có thể giúp cho những phiên xét xử dự kiến diễn ra vào cuối năm nay về 3 bị đơn khác. Do đó, lần này, Duch xuất hiện vừa với tư cách bị đơn, vừa là nhân chứng. Hắn đã được đưa tới tòa án bằng một xe chống đạn.
Gian nan con đường tìm công lý
Trước khi phiên tòa diễn ra, nhiều nạn nhân, thân nhân các nạn nhân của chế độ diệt chủng đã e ngại những bị đơn, hiện đã lớn tuổi và ốm yếu, có thể chết trước khi phải đối mặt với công lý. Tương lai phiên tòa xét xử Khmer Đỏ chỉ được bảo đảm khi Ngoại trưởng Nhật Bản Hirofumi Nakasone hôm 11/1 cam kết với Thủ tướng Campuchia Hun Sen về khoản đóng góp 21 triệu USD để vận hành tòa án này. Vì thế, sau hơn một thập niên đấu tranh, việc mở phiên tòa phúc thẩm xét xử cựu thủ lĩnh Khmer Đỏ là một bước đột phá và là một phần trong nỗ lực của chính phủ Campuchia trong việc trừng phạt những kẻ phải chịu trách nhiệm về cái chết của khoảng 2 triệu người dân nước này.
Theo hồ sơ được các công tố viên Campuchia nộp lên tòa án xét xử các tội ác diệt chủng hồi năm 2007, 5 thủ lĩnh cấp cao của Khmer Đỏ bị cáo buộc tội ác chống lại loài người gồm: Pol Pot (đã chết năm 1998), Nuon Chea, Ieng Sary, Khieu Samphan và Duch. Những tên này đều phạm những tội danh sau: hành quyết các cựu chiến binh, công chức và giới trí thức; đày 3 triệu dân Phnom Penh và người dân ở các thành phố khác vào trại tập trung khiến hơn 10.000 người chết vì đói và kiệt sức; đày dân vào các trại tập trung và biến họ thành nô lệ; thảm sát các nhóm chủng tộc và những nhóm người thuộc nhiều nước đã định cư lâu đời ở Campuchia như người Chăm, người Việt, người Hoa, người Thái, người Lào…
Các số liệu thống kê cho thấy, sau các cuộc tàn sát, nhóm người Chăm theo đạo Hồi, các nhóm thiểu số thuộc dân tộc Thái và Lào bị mất 1/3; nhóm người Hoa mất một nửa; hơn 100.000 người Việt bị trục xuất vào năm 1975 và khoảng 10.000 người khác bị giết. Các tu sĩ Phật giáo cũng bị loại bỏ với cùng một vẻ lạnh lùng, tàn ác như thế: hàng ngàn thầy tu bị hành quyết và chùa chiền bị đốt phá…
Những bằng chứng về tội ác diệt chủng chống lại loài người này hiện đang được lưu giữ trong hơn 300.000 trang tài liệu tịch thu từ Khmer Đỏ. Giới quan sát nhận định, phiên tòa xét xử Duch được coi là thắng lợi đầu tiên của chính quyền Campuchia trong hơn một thập kỷ đấu tranh tìm lại công lý cho nạn nhân và thân nhân các nạn nhân của chế độ diệt chủng Pol Pot.
Campuchia vừa cho xuất bản một cuốn sách giáo khoa đầu tiên về "Cánh đồng chết" nhằm giáo dục cho giới trẻ biết về giai đoạn từ năm 1975-1979, khi Khmer Đỏ nắm quyền và giết chết 2 triệu người. Trước mắt, hơn 500.000 cuốn sách này sẽ được phát hành trong năm 2009 và được đưa vào chương trình dạy học ở bậc trung học.
Hiện tại, Bộ Giáo dục Campuchia đang xem xét đề án sử dụng các tư liệu lịch sử và hình ảnh về các phiên tòa sắp tới để đưa vào giới thiệu trong các lớp ở bậc sơ học và tiểu học
.

Sông Thương

Những chuyển biến tích cực ở vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer



Dân số tỉnh Kiên Giang hiện có trên 1,7 triệu người, trong đó đồng bào dân tộc Khmer: 214.979 người, chiếm 12,68% dân số. 64 xã có đông đồng bào Khmer. 27 xã và 6 ấp được thụ hưởng Chương trình 135 (giai đoạn II) và có 53 đơn vị hành chính (xã, thị trấn) thuộc vùng khó khăn…

Các sinh hoạt văn hóa truyền thống
luôn được khuyến khích - Ảnh: BCB
Trong những năm qua, vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer được cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp rất quan tâm nên đã có những chuyển biến tích cực. Nhiều địa phương quan tâm chỉ đạo phát triển kinh tế, từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi. Thông qua các nguồn vốn đầu tư, trong năm 2008, đã mở 126 lớp tập huấn về kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi cho 3.792 lượt đồng bào dân tộc Khmer theo học. Nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nên năng suất lúa không ngừng được tăng lên; nhiều hộ thực hiện quy trình thâm canh tổng hợp với nhiều mô hình luân canh, xen canh màu và nuôi trồng thủy sản cho thu nhập bình quân đạt 35 - 40 triệu đồng /ha /năm.
Thông qua Chương trình 135 và các chương trình lồng ghép khác, đến nay đã có 63/64 xã đông đồng bào dân tộc Khmer có đường ô tô đến trung tâm xã, hệ thống thủy lợi cơ bản đảm bảo phục vụ tưới tiêu cho sản xuất. Hộ sử dụng điện và nước hợp vệ sinh cũng được nâng lên: 79,62% hộ được sử dụng điện, 77,93% hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh. Điều đáng mừng là đã có 24/42 xã rút ra khỏi danh sách các xã thuộc Chương trình 135.
Lĩnh vực văn hoá- xã hội trong vùng đồng bào dân tộc có bước phát triển. Tỷ lệ huy động học sinh là người dân tộc Khmer trong độ tuổi đến trường (từ 6-14 tuổi), đạt tỷ lệ 90%. Năm học 2008-2009 học sinh dân tộc ở 3 bậc học là 37.319/302.076 học sinh, chiếm tỷ lệ 12,37%. Thực hiện tốt chính sách cử tuyển con em dân tộc vào học các trường đại học, cao đẳng; tính riêng trong năm 2008 đã xét cử tuyển 95 em vào các trường đại học, cao đẳng, 82 em vào trường dự bị đại học tại thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, các tổ chức tín dụng và Ngân hàng chính sách xã hội đã cho 1.626 lượt hộ đồng bào dân tộc vay, với số tiền trên 30 tỷ đồng để sản xuất, kinh doanh. Xét giải quyết đất ở cho 672 hộ nghèo vào cụm tuyến dân cư vượt lũ… Nhờ đó, đời sống của đồng bào dân tộc Khmer ngày càng được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm (từ 9.483 hộ, chiếm 22,35% năm 2007 xuống còn 7.953 hộ, chiếm 18,75% năm 2008).
Việc dạy và học chữ Khmer được tỉnh rất quan tâm. Ở các trường có đông con em đồng bào dân tộc được tổ chức dạy song ngữ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ngoài ra, Ban Thường vụ Tỉnh ủy còn chủ trương những cán bộ công tác ở vùng có đông đồng bào dân tộc phải học và phải biết tiếng dân tộc để nắm và hiểu được tình hình, tâm tư nguyện vọng của đồng bào. Năm qua, toàn tỉnh đã có 216 lớp, với 5.874 học viên theo học chữ Khmer. Ngân sách tỉnh hỗ trợ 150 triệu đồng để mua sách giáo khoa Khmer ngữ và hỗ trợ 216 giáo viên là các vị sư và À cha dạy chữ Khmer trong tỉnh.
Công tác chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào được chú trọng, 60/64 xã đông đồng bào dân tộc có trạm y tế, mỗi năm tỉnh cấp gần 1 tỷ đồng để mua thuốc trị bệnh miễn phí, cấp thẻ bảo hiểm y tế, các chương trình y tế quốc gia được đồng bào hưởng ứng khá tốt. Đội ngũ cán bộ y tế là người dân tộc Khmer ngày càng phát triển, đến nay có 325 cán bộ y tế là người dân tộc Khmer, trong đó có 48 bác sĩ, 5 dược sĩ, 87 y sĩ, 72 nữ hộ sinh, 78 điều dưỡng, 01 dược tá, 26 cán bộ khác.
Bản sắc văn hoá của đồng bào dân tộc tiếp tục được gìn giữ và phát huy, các lễ hội truyền thống hàng năm được tổ chức khá tốt. Trong các ngày lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc, các cấp - các ngành đều tổ chức đoàn đi thăm và tặng quà cho các vị sư và đồng bào ở các chùa trong tỉnh... Hầu hết các chùa đều được trùng tu, xây dựng khang trang. Một số chùa có truyền thống cách mạng và vùng khó khăn được tỉnh hỗ trợ kinh phí để trùng tu, sửa chữa.
An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc được giữ vững và ổn định. Hệ thống chính trị cơ sở trong đồng bào dân tộc Khmer thường xuyên được củng cố và kiện toàn. Từ sau Đại hội Đảng các cấp, công tác chính trị, tư tưởng, công tác tuyên truyền, vận động quần chúng được các cấp ủy Đảng quan tâm. Việc tuyên truyền các sách "Lược sử vùng đất Nam bộ Việt Nam", "Việt Nam - Campuchia, mối quan hệ láng giềng hữu nghị, truyền thống", Hiệp ước về phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam - Campuchia... đã được quán triệt trong cán bộ, đảng viên, một số nơi triển khai đến các sư sãi, đồng bào Khmer, đã nhận được sự đồng tình cao.
Đến nay, cấp ủy các cấp đã xây dựng xong quy hoạch cán bộ chủ chốt là người Khmer và Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2010 - 2015. Trong đó quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý cấp tỉnh là 17/833 đồng chí, cấp huyện và tương đương 14/738 đồng chí, cấp xã, phường, thị trấn và tương đương 220/3.559 đồng chí... Hiện nay toàn tỉnh có 2.232 cán bộ công chức là người Khmer. Công tác phát triển đảng viên là người dân tộc Khmer được quan tâm, trong năm 2008 đã phát triển được 115 đảng viên, nâng tổng số đảng viên là người dân tộc Khmer có 1.326 đồng chí, chiếm 4,63% so với tổng số đảng viên trong toàn Đảng bộ; đảng viên người dân tộc Khmer được cơ cấu ở tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Công tác xây dựng, củng cố và kiện toàn Mặt trận và các đoàn thể ở cơ sở được chú trọng. Xây dựng nhiều mô hình tập hợp quần chúng trong các đoàn thể ở những nơi có đông đồng bào dân tộc, như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, các câu lạc bộ khuyến nông, câu lạc bộ làm lúa giống... Hầu hết các địa phương đều có kế hoạch vận động các chức sắc tôn giáo và người có uy tín trong đồng bào dân tộc Khmer phát huy vai trò của Hội đoàn kết sư sãi yêu nước.
Bên cạnh những kết quả đạt được vùng có đông đồng bào dân tộc còn có những tồn tại hạn chế: Tình trạng đồng bào dân tộc sang bán, cầm cố đất đai còn xảy ra ở một số nơi nhưng địa phương chưa có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Tập quán sinh hoạt, tổ chức cuộc sống được cải tiến chưa nhiều, còn một bộ phận có tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước, thiếu tự lực vươn lên. Kết cấu hạ tầng ở vùng đồng bào dân tộc vẫn còn thấp kém. Trình độ dân trí trong đồng bào chậm nâng lên, tỷ lệ huy động học sinh đến trường ở bậc trung học không cao, nhất là phổ thông trung học. Nhiều địa phương chưa quản lý được số học sinh dân tộc đang học phổ thông trung học, cao đẳng, đại học và chưa quản lý sử dụng tốt số học sinh thuộc diện cử tuyển đã tốt nghiệp ra trường. Mức hưởng thụ văn hóa trong đồng bào còn thấp; nhiều địa phương chưa có nơi sinh hoạt chính trị văn hóa, học tập cộng đồng cho nhân dân và nơi vui chơi giải trí cho thanh thiếu nhi. Y tế vệ sinh môi trường nhiều vùng chưa đảm bảo, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong đồng bào Khmer còn cao…
Để vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer phát triển nhanh hơn nữa trong thời gian tới, cần phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị quan tâm chăm lo nhằm tạo điều kiện cho vùng này phát triển một cách toàn diện, vững chắc. Trong đó tập trung chỉ đạo có hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo; quan tâm giáo dục đồng bào xóa bỏ những tập quán sản xuất, sinh hoạt lạc hậu, tiêu xài chưa tiết kiệm, phát huy ý chí tự lực tự cường, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đi đôi với đẩy mạnh việc huy động các nguồn lực và thực hiện tốt việc đầu tư xây dựng các công trình thiết yếu; trước hết là kết cấu hạ tầng như cầu, đường giao thông nông thôn, thủy lợi, điện, nước sạch, trạm xá, trường học, chợ... Chăm lo công tác giáo dục, nâng cao trình độ dân trí trong đồng bào dân tộc và quan tâm đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho địa phương: Tạo điều kiện thuận lợi cho con em người dân tộc tiếp tục theo học cấp III; thực hiện tốt việc cử tuyển học sinh dân tộc vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh theo địa chỉ để về công tác ở địa phương. Tăng cường công tác nắm tình hình, phát hiện xử lý ngăn chặn kịp thời và làm thất bại âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch. Đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, ngăn chặn có hiệu quả việc qua lại biên giới trái phép của đồng bào Khmer. Quan tâm giải quyết kịp thời các vụ tranh chấp, khiếu kiện có liên quan đến dân tộc. Thường xuyên củng cố xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở để làm tốt vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị toàn diện ở cơ sở. Đẩy mạnh công tác phát triển Đảng trong người dân tộc. Từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở vùng đồng bào dân tộc đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
Vùng có đông đồng bào dân tộc phát triển và ổn định sẽ góp phần quan trọng để đẩy nhanh cho các vùng khác cùng phát triển. Hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc; vì vậy chăm lo cuộc sống cho đồng bào dân tộc Khmer nói riêng và nhân dân nói chung là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị.
Nguyễn Văn Hiền

Mong Thọ B: Làm tốt công tác xây dựng đời sống văn hóa


Về xã Mong Thọ B - huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang vào những ngày đầu Xuân Kỷ Sửu năm 2009 để cảm nhận sự thay da, đổi thịt đang diễn ra tại vùng quê này…
Đời sống kinh tế ngày một khá

Mong Thọ B có trên 3.000 hộ dân với 85,16% dân tộc Kinh, 12,74% dân tộc Khmer và 2,1% dân tộc Hoa. Nhân dân nơi đây chủ yếu gắn bó với đồng ruộng, chăn nuôi, phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ.
Những năm qua, Đảng bộ xã luôn quan tâm lãnh đạo UBND, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích nhân dân trong xã đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Xã thường phối hợp với các ngành chuyên môn của huyện tổ chức các lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật để nhân dân áp dụng trong sản xuất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi. Đồng thời mạnh dạn tập trung phát triển các mô hình kinh tế tập thể, tạo điều kiện cho nhân dân vay vốn sản xuất để từng bước xóa đói, giảm nghèo. Ngoài 01 hợp tác xã nông nghiệp đang hoạt động rất hiệu quả, hiện xã có 05 tổ hợp tác sản xuất; 21 tổ bơm tát tập thể; 02 câu lạc bộ (CLB) cánh đồng cho lợi nhuận từ 30-50 triệu đồng/ha; 05 CLB nuôi cá; 01 CLB trồng nấm; 05 CLB tiểu thương và rất nhiều mô hình góp vốn xoay vòng của các hội đoàn thể. Đặc biệt, mô hình CLB cánh đồng cho lợi nhuận 30- 50 triệu đồng/ha và mô hình nuôi cá nước ngọt đã và đang mang lại lợi nhuận khá. Chỉ tính riêng năm 2008 từ CLB cánh đồng này ấp Phước Ninh thu lãi bình quân 52 triệu đồng/ha; CLB nuôi cá nước ngọt ấp Phước Hòa thu hoạch 2 vụ/ năm thu lãi 800 triệu đồng.
Cùng với việc vận dụng đồng bộ các chủ trương của Đảng và Nhà nước để mở rộng và phát triển kinh tế, từng bước xóa nghèo, hàng năm xã còn tạo điều kiện cho hơn 300 lao động có việc làm ổn định trong và ngoài tỉnh. Do vậy số hộ có đời sống kinh tế ổn định chiếm tỷ lệ 91,35%; có 86,68% số hộ có nhà ở kiên cố và bán kiên cố. Lương thực bình quân trên đầu người đạt 1.127 kg thóc/năm, tăng 82 kg so với năm 2006. Nếu như tỷ lệ hộ nghèo trong xã năm 2006 còn 7,19% thì đến năm 2008 tỷ lệ này giảm còn 3,55%.

Đời sống văn hóa phong phú

Đến Mong Thọ B bây giờ ta dễ dàng bắt gặp những tụ điểm sinh hoạt văn hóa văn nghệ hết sức thú vị mà diễn viên cũng thật đa dạng, phong phú. Vẫn biết ca cổ được hầu hết bà con Nam bộ nói chung, các vùng quê ở Kiên Giang nói riêng đều mê. Ai ai cũng ít nhiều thuộc vài câu nằm lòng để có dịp trổ tài với bà con lối xóm và du khách gần xa. Tiềm năng dồi dào nhưng chỉ tiếc Mong Thọ B chưa có nhiều mô hình CLB đờn ca tài tử. Hiện xã mới có 01 CLB đờn ca tài tử, 01 nhóm ca khúc cách mạng và 01 CLB gia đình văn hóa. Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển khá, có 878 hộ gia đình thể thao, 09 sân bóng chuyền, 06 sân bóng đá mini. Đội bóng chuyền, bóng đá và đội văn nghệ của xã thường xuyên tham gia tranh tài tại các cuộc hội thao, hội diễn do huyện tổ chức. Bằng vốn sách do ngành VHTTDL tỉnh hỗ trợ và xã đầu tư, Thư viện xã có 550 cuốn sách gồm nhiều thể loại phục vụ tốt nhu cầu giải trí, tìm tòi áp dụng khoa học kỹ thuật từ sách vào việc chăn nuôi, trồng trọt của bà con trong và ngoài xã. Một số tủ sách ấp cũng phát huy được hiệu quả phục vụ cộng đồng. Hàng năm số hộ được công nhận gia đình văn hóa đều tăng; năm 2008 có 95% gia đình văn hóa, 99/100 tổ văn hóa, 5/5 ấp đạt ấp văn hóa và khu dân cư tiên tiến. Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội của xã được thực hiện tốt; không có tệ nạn xã hội nghiêm trọng, phức tạp, không xảy ra mê tín dị đoan; không có các tụ điểm ma tuý, mại dâm. 5/5 ấp đều xây dựng bảng Quy ước được UBND huyện phê duyệt và được nhân dân đồng tình thực hiện đạt hiệu quả.
Về giáo dục, nhờ tranh thủ mọi nguồn lực hỗ trợ đã xây dựng mới được 12 phòng học; vận động nhân dân đóng góp sửa chữa các công trình phụ như nhà vệ sinh, sân chơi, đường thoát nước.. với số tiền trên 200 triệu đồng. Trang thiết bị dạy học ngày càng được tăng cường nên việc dạy và học từng bước có chất lượng, số học sinh đạt tỷ lệ khá giỏi năm học vừa qua chiếm 98%. Năm 2007, Trường Tiểu học Mong Thọ B2 được công nhận đạt chuẩn Quốc gia; 02 trường còn lại đều đạt tiêu chuẩn sạch, đẹp, an toàn. Năm 2007 Trạm Y tế xã được xây dựng mới có 01 bác sỹ, 02 y sỹ, 01 nữ hộ sinh và 01 trung cấp Đông y và đã được công nhận đạt chuẩn Quốc gia. Cùng với Tổ Y tế các ấp và lực lượng cộng tác viên, ba năm qua Trạm Y tế xã đã áp dụng kịp thời các biện pháp phòng chống dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm, không để dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn. Thường xuyên duy trì tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, tổ chức khám và điều trị cho gần 32.000 người, châm cứu bấm huyệt cho trên 7.200 người. Thực hiện các chương trình y tế Quốc gia, y tế cộng đồng đầy đủ và đạt chỉ tiêu đề ra; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ 17,6% năm 2006, nay giảm còn 13,5%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,3%. Đặc biệt, xã được “Dự án phòng chống bệnh truyền nhiễm tiểu vùng sông MêKông” của tỉnh chọn làm điểm thực hiện chương trình phòng chống sốt xuất huyết dựa vào cộng đồng, đã tuyên truyền được 09 cuộc có trên 3.200 lượt người tham gia tuyên truyền, diệt lăng quăng… Số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh chiếm 88%; năm 2007 đã cấp 424 dụng cụ chứa nước cho hộ dân tộc Khmer nghèo theo Quyết định 134 của Thủ tướng Chính phủ.

Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội

Không chỉ từng bước nâng cao đời sống kinh tế, văn hoá, xóa đói, giảm nghèo, Đảng bộ, UBND xã Mong Thọ B đã và đang thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Trong ba năm đã vận động nhân dân tham gia đóng góp các nguồn quỹ vì người nghèo, quỹ đền ơn đáp nghĩa được gần 250 triệu đồng. Từ nguồn quỹ này đã cất 05 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa 08 căn nhà cho các hộ chính sách, cất 100 căn nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo, trong đó có 46 căn cho hộ nghèo dân tộc Khmer thuộc diện 134. Xã còn kết hợp với các đoàn của huyện, tỉnh tổ chức thăm hỏi và tặng quà nhân các ngày lễ, tết cho 152 lượt gia đình chính sách với số tiền 56,7 triệu đồng; trợ cấp khó khăn đột xuất, hỗ trợ tiền điều dưỡng cho 18 hộ số tiền 10 triệu đồng; xét cấp nhà ở trong khu dân cư cho 22 hộ chính sách. Đến nay các gia đình thuộc đối tượng chính sách trong xã đều có nhà ở và cuộc sống ổn định.
Ngoài các hoạt động trên, các cơ quan ban ngành, đoàn thể trong xã vận động các tổ chức, cá nhân cứu trợ cho hộ nghèo được 18,5 tấn gạo, quần áo, mùng mền…với tổng trị giá trên 200 triệu đồng; vận động 15 triệu đồng giúp đỡ các hộ bị sập nhà, tốc mái do mưa bão.
Với những kết quả đáng ghi nhận trong ba năm (2006- 2008), vừa qua Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tỉnh đã tiến hành phúc tra, chuẩn bị hồ sơ đề nghị tỉnh công nhận xã đạt tiêu chuẩn về xây dựng đời sống văn hóa ba năm liên tục.
Bình Nguyên

Lễ cúng trăng của người Khmer Nam bộ

Người Khmer quan niệm mặt trăng là một vị thần điều tiết và có ảnh hưởng lớn đến mùa màng. để tưởng nhớ công ơn, vào dịp thu hoạch hoa màu họ làm lễ cúng trăng và được tổ chức thống nhất vào đúng đêm rằm tháng 10 tại khuôn viên chùa, cũng có thể ở nhà hoặc nhiều nhà cùng tập trung trên khoảng sân rộng rãi không có bóng cây che khuất. Họ trải chiếu ngồi quay về hướng mặt trăng, đợi lúc trăng cao toả sáng, một người cao niên làm chủ lễ sẽ nói lên lòng biết ơn, xin mặt trăng tiếp nhận lễ vật và cầu cho mưa thuận gió hoà trong năm tới. Thức cúng đặc biệt không thể thiếu trong lễ này là cốm dẹp, được quết từ lúa nếp. Cúng xong, trẻ em được gọi đến cũng chắp tay hướng về mặt trăng, chủ lễ lấy cốm dẹp đút vào miệng các em. Chính vì nghi thức này mà lễ cúng trăng còn gọi là Okombok, tức là "Đút cốm dẹp".
Do tín ngưỡng Phật giáo, lễ cúng trăng còn liên quan đến câu chuyện ngụ ngôn "Con thỏ và mặt trăng". Xưa kia, thỏ từng là một kiếp hoá thân của Đức Phật sống bên bờ sông Hằng. Một hôm, thần Sakah xuống trần giả làm người ăn xin để thử lòng thỏ, không có gì làm phước, thỏ đốt lên đống lửa nhảy vào và nói "Mời người dùng thịt này". Lửa bỗng tắt ngấm và người ăn xin biến mất, thần Sakah hiện ra khen ngợi lòng hy sinh cao đẹp của thỏ và vẽ hình thỏ lên mặt trăng. Vì vậy, lễ cúng trăng còn để tưởng nhớ đến tiền kiếp của Phật thích ca.
Trò chơi dân gian chủ yếu trong dịp này là các cuộc đua ghe ngo, thường diễn ra trước đó một hai ngày và kết thúc vào trưa rằm âm lịch để trở về làm lễ cúng trăng. Qua lễ hội cũng là thời điểm bước vào mùa khô, hoa màu thu hoạch xong, các gánh hát Yukê (một loại hình kịch hát dân gian đặc trưng của người Khmer Nam Bộ) do nhân dân trong phum srok lập ra bắt đầu lưu diễn vui chơi. Sau đó, mọi người lại trở về với ruộng rẫy khi đến mùa cày cấy.
Lê Phước Vinh

Nông dân Khmer Bạc Liêu trúng đậm mùa dưa hấu


Hiện nay, nhiều hộ Khmer ở khóm 1, khóm Trà Kha, phường 8, thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đang thu hoạch dưa hấu sớm trồng trên ruộng lúa. Năm nay, dù thời tiết không thuận lợi nhưng năng suất dưa hấu đạt khá và đặc biệt giá dưa hấu cao, đem lại lợi nhuận gầp 2-3 lần so với trồng lúa.
Anh Sơn Dũng ở khóm 1 trồng 2 công dưa hấu trên ruộng lúa. Sau hơn 2 tháng chăm sóc, đến giữa tháng 12/2008, anh thu hoạch 2 công dưa hấu, đạt năng suất hơn 4 tấn. Với giá bán tại ruộng 3.600 đồng/kg, 2 công dưa hấu cho thu nhập hơn 15 triệu đồng, trừ chi phí anh lãi gần 10 triệu đồng. Anh phấn khởi nói: “Năm nay, do thời tiết bất thường nên dưa hấu không sai quả bằng năm ngoái. Chi phí mỗi công dưa cũng tăng khoảng 30% nhưng nhờ thu hoạch vào dịp Tết Dương lịch, bán giá cao hơn nên nông dân vẫn có lãi khá”. Tương tự, anh Thạch Sinh ở cùng khóm cũng vừa thu hoạch 1 công dưa hấu, bán được hơn 6 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí, anh lãi hơn 3 triệu đồng. Anh đang trồng tiếp đợt dưa hấu thứ 2 để bán vào dịp rằm tháng Giêng.
Dẫn tôi thăm 2 công dưa hấu đang thu hoạch, nâng niu những trái dưa bóng láng, to tròn, anh Vu Vàng cho biết dưa hấu trồng trên ruộng lúa, năng suất thấp nhất cũng đạt 2 tấn trái/công. Với giá bán như hiện nay, mỗi công dưa hấu cho lợi nhuận gấp 2-3 lần trồng lúa. Phần lớn người trồng dưa hấu nơi đây đều sử dụng màng phủ nông nghiệp, áp dụng IPM trong phòng trừ sâu bệnh nên cũng giảm chi phí đáng kể. Người dân nơi đây còn tự tạo giống dư hấu để trồng bằng cách ghép giống dưa hấu với bầu do các nhà khoa học ở Khoa Nông nghiệp, trường Đại học Cần Thơ hướng dẫn. Anh Vàng và vợ là chị Thạch Thị Bé Ba cũng học và ghép thành công, trồng nhiều vụ dưa hấu đạt hiệu quả cao.
Hơn 10 năm trồng dưa hấu, ông Thạch Đen ở khóm Trà Kha, phường 8, thị xã Bạc Liêu là người có nhiều kinh nghiệm trong trồng dư hấu bán Tết nên ruộng dưa ông luôn đạt năng suất cao. Theo ông Đen, để dưa hấu đạt năng suất cao, ngoài việc chú ý chọn giống đạt năng suất, chất lượng, trong quá trình trồng phải chú ý đến yếu tố thời tiết để có cách hạn chế ảnh hưởng và chế độ chăm sóc phân, nước theo 4 đúng. Hiện 4 công dưa hấu của ông đang phát triển tốt, trái to, đều và sẽ thu hoạch cuối tháng 12-2008, năng suất đạt khoảng 3 tấn/công. Với giá bán hơn 3.000 đồng/kg, 4 công dưa cho thu khoảng 40 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí, ông còn lãi gần 30 triệu đồng. Nhờ trồng dưa hấu, nhiều hộ Khmer nơi đây có cuộc sống ổn định, vươn lên khá giàu.
Phường 8, TX Bạc Liêu hiện có hơn 20 hộ Khmer trồng dưa hấu trên ruộng lúa, với diện tích trên 10 ha. Đây là vùng trồng dưa truyền thống và có tiếng của Bạc Liêu. Kỹ sư Trần Tú Quỳnh, cán bộ nông nghiệp thị xã Bạc Liêu tăng cường về phường 8 cho biết: “Thị xã Bạc Liêu khuyến khích người dân đưa màu xuống ruộng, đặc biệt là trồng dưa hấu trên ruộng lúa bằng cách hỗ trợ kỹ thuật, giống… Ngoài việc dưa hấu cho lợi nhuận cao hơn trồng lúa, việc luân canh cây trồng giúp đất giữ được độ tơi xốp, màu mỡ, hạn chế được sâu bệnh”.
Minh Đạt

Đồng bào Khmer An Giang xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong phát triển kinh tế - xã hội



Như một tình cảm tự nhiên được hun đúc trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ quê hương, đồng bào Khmer An Giang đã gắn bó bền chặt vận mệnh của mình với cộng đồng các dân tộc trên vùng đất phên giậu phía Tây Nam của Tổ quốc. Sự đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc chính là cội nguồn sức mạnh góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, xã hội, cũng như làm thất bại những âm mưu lợi dụng hay đội lốt tôn giáo nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết của các thế lực thù địch tại An Giang.
Như một tình cảm tự nhiên được hun đúc trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ quê hương, đồng bào Khmer An Giang đã gắn bó bền chặt vận mệnh của mình với cộng đồng các dân tộc trên vùng đất phên giậu phía Tây Nam của Tổ quốc. Sự đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc chính là cội nguồn sức mạnh góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, xã hội, cũng như làm thất bại những âm mưu lợi dụng hay đội lốt tôn giáo nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết của các thế lực thù địch tại An Giang.
Là một bộ phận máu thịt trong cộng đồng các dân tộc
An Giang có nền văn hóa cộng cư độc đáo, được hun đúc nên từ sự hòa quyện của bốn dòng văn hóa Việt - Hoa - Khmer - Chăm. Mỗi nền văn hóa trên với nét truyền thống riêng biệt của mình, được lưu giữ theo dòng chảy lịch sử, trở thành một bộ phận không thể tách rời trong nền văn hóa chung, thống nhất của An Giang.
Người Khmer ở An Giang sống tập trung ở vùng Bảy Núi, thuộc 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, quần cư thành những cụm dân riêng, gọi là Phum, Sóc, có khoảng 90 nghìn người (chiếm 4% dân số của tỉnh), phần lớn theo đạo Phật giáo Nam tông và sống bằng lao động nông nghiệp. Đồng bào dân tộc Khmer là một bộ phận máu thịt trong cộng đồng những dân tộc cùng chung sống trên mảnh đất An Giang. Trải qua các thời kỳ lịch sử, đồng bào luôn gắn bó với các dân tộc khác, có nhiều đóng góp, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như xây dựng đất nước.
Trong những năm qua, kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang có tốc độ tăng trưởng khá, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đặc biệt là đồng bào Khmer được cải thiện một bước đáng kể. Từ năm 1998 đến nay, nhiều chính sách, chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cho vùng đồng bào dân tộc được ban hành như: Chương trình 135, 134 của Chính phủ, Chương trình Dân tộc của tỉnh... Thông qua các chương trình này, hệ thống kết cấu hạ tầng: giao thông, thủy lợi, điện, nước sạch sinh hoạt, trường học, nhà ở cho người nghèo... được đầu tư khá tập trung, tạo nên một diện mạo mới trong đời sống của đồng bào dân tộc Khmer vùng Bảy Núi tại An Giang.
Tôn giáo và bản sắc dân tộc đồng bào Khmer gắn chặt, hòa nhập vào nhau, những sinh hoạt văn hóa đều hiện hữu trong các hoạt động tôn giáo và ngược lại. Phật giáo Nam tông (Tiểu thừa) mang tính quần chúng rộng rãi, không thoát tục, lánh xa cuộc đời, mà hòa cùng hoạt động của cộng đồng, với mục tiêu xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Đại bộ phận sư sãi là con em nhân dân lao động, gắn bó với gia đình, làng xóm. Tính mở và vai trò quan trọng của chùa Khmer và bộ phận sư sãi tạo nên những đặc thù trong công tác vận động, xây dựng khối đại đoàn kết nơi có đồng bào Khmer sinh sống. Vận động sư sãi Khme là một bộ phận quan trọng trong công tác dân vận, thông qua đội ngũ này vận động nhân dân, làm cho các tầng lớp đồng bào Khmer trong tỉnh ngày càng tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hiện nay, Mặt trận và các đoàn thể đã tập hợp vào tổ chức trên 13 nghìn đoàn viên, hội viên, chiếm 16% tổng số người Khmer của địa phương.
Những mô hình, cách làm sáng tạo xây dựng khối đoàn kết bền chặt ở cơ sở
Điểm đặc biệt trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là An Giang chủ trương nhân rộng mô hình “Điểm sáng văn hóa trong phum, sóc”, thông qua việc xây dựng mô hình chùa Khmer văn hóa. Chùa đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Khmer, nó là cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, là điểm tựa tinh thần vững chắc, nơi lưu giữ, bảo tồn các giá trị văn hóa; sinh hoạt tôn giáo của tín đồ phật tử và cũng là trung tâm sinh hoạt cộng đồng. Các ngôi chùa vốn đã quan trọng với người Khmer, khi xây dựng theo mô hình chùa văn hóa cùng các tiêu chí mới, nó càng phát huy được vai trò của mình, trở thành sợi dây gắn kết cộng đồng bền chặt thêm. ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, đến nay có 24 chùa được công nhận chùa văn hóa.
Chùa Po Thi Vong ở xã Cô Tô, huyện Tri Tôn là một trong 5 chùa đầu tiên thí điểm xây dựng mô hình chùa Khmer văn hóa, lễ công nhận đúng dịp đón tết cổ truyền Chol Chnam Thmay năm 2006, được đồng bào Khmer hân hoan chào đón. Từ khi Po Thi Vong trở thành chùa văn hóa, nơi đây thực sự trở thành điểm sinh họat cộng đồng có ý nghĩa, nơi học tập, tuyên truyền về đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, góp phần nâng cao dân trí; giáo dục và thực hiện nếp sống văn hóa thông qua hoạt động khuyến khích đồng bào dân tộc học hai thứ tiếng, việc cưới, tang tiết kiệm, giữ mối quan hệ xóm giềng tốt đẹp trong phum, sóc.
Chùa Sà Lôn cũng là ngôi chùa văn hóa tiêu biểu. Ông Chau Sơn Hy, trụ trì chùa cho biết, từ việc xác định ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội là điều kiện quan trọng bậc nhất giúp đồng bào Khmer yên tâm lao động, làm giàu cho gia đình, quê hương, nhà chùa cùng Ban ấp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác của nhân dân trước những âm mưu, thủ đoạn của kẻ xấu. Từ đây, dấy lên khí thế thi đua lao động sản xuất và phong trào làm từ thiện. Nhân dân đóng góp kinh phí gần 100 triệu đồng nâng cấp toàn tuyến giao thông của ấp Sà Lôn, xây dựng hệ thống cống thoát lũ núi, làm hàng rào trường tiểu học A Lương Phi. Nhiều hộ gia đình người Khmer đã có những thay đổi trong suy nghĩ, cách thức phát triển kinh tế, mang lại hiệu quả cao, giúp đỡ các gia đình khác vươn lên thoát khỏi cảnh đói nghèo.
Việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong đồng bào Khmer ở An Giang còn được thể hiện ở những cách làm mới, gắn với hoàn cảnh thực tiễn tại từng địa phương. Xã Lê Trì, huyện Tri Tôn là địa bàn miền núi, dân tộc, từ năm 2000 trở về trước, tình hình an ninh trật tự ở xã luôn diễn biến phức tạp, một số phần tử xấu kích động, xúi giục đồng bào Khmer khiếu kiện, gây mất an ninh trật tự, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Từ thực trạng trên, lãnh đạo xã Lê Trì đã có sáng kiến xây dựng lực lượng nòng cốt, bằng cách chọn mỗi ấp một cá nhân là người dân tộc Khmer, có uy tín, được nhân dân tin tưởng, cùng với lực lượng hỗ trợ khác tuyên truyền, vận động đồng bào ở địa bàn khu dân cư nâng cao nhận thức. Những người tham gia lực lượng nòng cốt ở xã Lê Trì thể hiện tính gương mẫu, tiên phong, làm đầu tàu trong các phong trào, trở thành cầu nối giữa Đảng và dân; hướng dẫn áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, cách thức làm ăn để phát triển kinh tế gia đình, thực hiện các tiêu chí “Gia đình văn hóa”, vận động đồng bào Khmer không nuôi bò trong nhà, không để con bỏ học giữa chừng. Nội dung tuyên truyền luôn được cải tiến, đổi mới mang tính thiết thực. Với cách làm đó, từ đầu năm đến nay, lực lượng nòng cốt của xã trực tiếp giải quyết thành công hàng chục vụ mâu thuẫn, xích mích, chung sức xây dựng tình làng, nghĩa xóm bền chặt.
Những buổi tiếp xúc nhân dân được diễn ra đều đặn, cùng với việc thông tin về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện, xã, lực lượng nòng cốt lắng nghe phản ánh của đồng bào Khmer về tình hình an ninh, trật tự ở từng địa bàn dân cư, bám sát quần chúng, giúp đồng bào Khmer cảnh giác tránh kẻ xấu lợi dụng, kích động, xúi giục khiếu kiện đông người. Lực lượng này đặc biệt quan tâm, hạn chế nguồn gốc, nguyên nhân phát sinh những mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cơ sở. Thực tiễn cho thấy, từ những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ, nếu không được phát hiện, giải quyết kịp thời, dứt điểm rất dễ dẫn đến những phát sinh phức tạp hoặc tình trạng vi phạm pháp luật. ở phum Cô Đơn, ấp Soài Chếk, xã An Cư, huyện Tịnh Biên, xây dựng lực lượng nòng cốt sâu sát với nhân dân chính là một nguyên nhân quan trọng giúp địa phương phát triển. Năm 1995, trong tổng số 32 hộ của phum Cô Đơn có đến 27 hộ khó khăn phải cầm cố đất, nhờ sự cứu trợ của chính quyền. Năm năm trở lại đây, chương trình dân tộc của tỉnh được triển khai cùng sự hỗ trợ của lực lượng nòng cốt, các hộ dân trên đều đã có đất canh tác, được vay vốn sản xuất, đời sống dần đi vào ổn định.
Nâng cao đời sống của đồng bào Khơme thông qua các hoạt động giúp đỡ phát triển kinh tế là điểm mấu chốt để thực hiện chính sách dân tộc. Chính quyền các cấp phối hợp cùng nhà chùa vận động, giúp đỡ người dân áp dụng khoa học kỹ thuật vào các mô hình sản xuất, góp phần nâng cao đời sống đồng bào Khmer. Cùng với đời sống vật chất được nâng lên, đời sống văn hóa tinh thần của người dân cũng được cải thiện, đặc biệt, các hoạt động lễ hội trong đồng bào Khmer ở An Giang rất được chú trọng, được coi như một dịp thắt chặt hơn khối đại đoàn kết, như lễ mừng năm mới Chol Chnam Thmay, lễ cúng ông bà Dolta, lễ hội đua bò Bảy Núi, Ooc-Om-Bók, nhập lụa, Dâng Y, Ra Hạ Chư Tăng, ngày hội văn hóa Khmer...
An Giang tập trung xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt ở cấp xã trong vùng dân tộc Khmer, bảo đảm vững mạnh, đủ sức lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Đẩy mạnh công tác quy hoạch tạo nguồn, đào tạo cán bộ dân tộc ngay từ khi học phổ thông đến cử tuyển đại học, có chính sách ưu đãi, tuyển dụng sau khi tốt nghiệp; phát triển đảng viên là người dân tộc Khmer. Tăng thêm chỉ tiêu cử tuyển ở các trường đại học, phấn đấu đến năm 2010 các xã đông đồng bào dân tộc có lãnh đạo chủ chốt là người Khmer; cán bộ của Đảng, chính quyền, đoàn thể vùng đồng bào Khmer phải biết tiếng Khmer. Bồi dưỡng cán bộ cơ sở các nội dung về công tác giáo dục tư tưởng, vận động quần chúng, nắm chắc diễn biến tâm tư, nguyện vọng của đồng bào để kịp thời giải quyết, trên cơ sở những nguyên tắc và quy định chung, tùy vào đặc thù dân trí, trình độ, ngôn ngữ, văn hóa... mỗi địa phương để có giải pháp kịp thời xử lý hiệu quả. Nâng cao chất lượng công tác giải quyết khiếu nại và khiếu kiện của đồng bào Khmer, nhằm xử lý dứt điểm những vấn đề do lịch sử để lại hoặc mới phát sinh.
Tính cộng đồng, sự gắn bó của đồng bào người Khmer và đồng bào các dân tộc khác là tình cảm son sắt đã được dày công vun đắp qua nhiều thế hệ, được thử thách qua những hoàn cảnh khó khăn, chặng đường nguy nan nhất, trở thành khối đại đoàn kết keo sơn bền chặt. Khối đại đoàn kết ấy đang tiếp tục được gây dựng, liên kết, quy tụ sức mạnh của cả cộng đồng, xây dựng quê hương An Giang ngày càng phát triển./.

Xuân Bằng