Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2010

CHÙA SÊRÂYTÊCHÔ-MAHATUP (CHÙA MÃ TỘC - CHÙA DƠI)

Chùa Dơi tên thật là Wathserâytêchô - Mahatup (phiên âm từ tiếng Khmer). Về sau đồng bào Kinh và Hoa đọc trại từ Mahatup thành “Mã Tộc”. Cho nên cũng có nhiều người gọi là: “Chùa Mã Tộc”. Ngoài ra dân gian còn gọi là chùa Dơi bởi vì trong chùa này có nhiều dơi.

Từ “Mã Tộc” cũng chính là địa danh (tính từ ngã ba đường cho đến lối rẽ vào Chùa Dơi) coi như là một làng nhỏ. Dân cư ở đây gồm 3 dân tộc (Kinh, Hoa, Khmer) cùng sinh sống.

Chùa Dơi là một tổng thể kiến trúc gồm có: Ngôi chánh điện, Sala, nhà hội của sư sãi và tín đồ, phòng ở của sư sãi và trụ trì, các tháp để tro người chết, phòng khách… Toàn bộ các công trình toạ lạc trong một khuôn viên rộng có nhiều cây cổ thụ, diện tích khoảng 04 hecta.

Chùa Dơi nằm trong địa bàn thành phố Sóc Trăng, thuộc khóm 9, phường 3, thành phố Sóc Trăng. Đông giáp khu dân cư, Tây giáp khu dân cư, Nam giáp đồng ruộng, Bắc giáp lộ Mai Thanh Thế tiếp giáp đường Lê Hồng Phong, thành phố Sóc Trăng.

Theo người Khmer, Mahatup là trận kháng cự lớn (Tup: kháng cự; Maha: lớn). Nơi đây đã diễn ra một trận đánh ác liệt của phong trào nông dân nổi dậy chống bọn phong kiến ngày xưa. Sau trận đánh đó, dân chúng tản cư trở về sinh sống, họ cho rằng vùng đất này có điềm lành (đất lành) nên xây chùa thờ Phật. Bởi họ cần có một đấng tối cao che chở - vì các trận đánh của phong trào nông dân ở những nơi khác đều bị thất bại, nhưng ở nơi đây trận chiến diễn ra ác liệt nhưng họ đã giành chiến thắng.

Chính điện chùa Dơi đã được xây dựng lại. Ảnh: N.H

Theo thư tịch cổ của Chùa còn để lại có ghi chép: Chùa được khởi công xây dựng vào từ năm 1569 dương lịch, cách nay 440 năm. Do ông Thạch Út đứng ra xây dựng. Từ trước đến nay chùa được trùng tu nhiều lần, năm 1960 Chùa sửa chữa lớn ở chánh điện, đến năm 2008 chùa bị cháy chánh điện. Vào tháng 4 năm 2009, chánh điện chùa đã được phục chế lại như cũ.

Kiến trúc Chùa Dơi cũng giống như bao kiến trúc Chùa Khmer khác ở Đồng bằng sông Cửu Long. Về họa tiết trang trí, điêu khắc, hội họa mang sắc thái văn hoá Khmer cổ.

Theo lời kể của các già làng về lịch sử hình thành của Chùa đã trải qua 19 đời Đại Đức. Các văn bản còn lại, được ghi trên lá thốt nốt, trải qua nhiều năm tháng đã bị mục nát và chỉ còn lại một số, cho đến hiện nay chỉ biết được 08 đời Đại Đức sau này (từ đời thứ 12 đến đời thứ 19):

- Đời thứ 12: Ông Lâm Men.

- Đời thứ 13: Ông Tham.

- Đời thứ 14: Ông Ngô Sển.

- Đời thứ 15: Ông Sâm.

- Đời thứ 16: Ông Lét.

- Đời thứ 17: Ông Thạch Chia.

- Đời thứ 18: Ông Thạch Kiều Đốc.

- Đời thứ 19: Ông Kim Rên.

Đặc biệt là loài Dơi ở đây rất nhiều cùng với các đời Đại Đức tồn tại cho đến ngày nay.

Như lời kể của các già làng thì loài Dơi sống nơi đây từ trước đến lúc bắt đầu xây dựng Chùa. Theo một số người Khmer đặc tả loài Dơi ở đây như sau:

Dơi là họ thú có cánh bay, những con lớn nặng từ 700 - 1.000g, cánh của chúng căng về hai phía dài từ 1,1 m -1,5 m, tốc độ bay nhanh nhất từ 50-60 km/h. Dơi có một số đặc điểm khác với loài Chim, Dơi là động vật có vú, vú nằm hai bên nách cánh, có mỏ giống như loài chó Phóc, miệng có răng rất bén để gặm nhấm. Thức ăn của Dơi là trái cây, không ăn lúa hay thịt cá. Dơi đi ăn vào ban đêm, ban ngày thì ngủ. Theo thường lệ hằng năm, bước vào mùa khô, thời tiết nóng nực, thiếu nước, trái cây ít, điều kiện sinh sống khó khăn, chúng thường tổ chức đi ăn ở xa, những nơi có nhiều trái cây và nước ngọt. Đôi khi chúng đi tìm thức ăn ở quá xa, không thể bay về Chùa trước lúc bình minh, Dơi phải ngủ lại nơi đó, và đường về được tiếp nối từng chặng đường của tối hôm sau. Những lúc thời tiết như thế thì đàn Dơi chỉ còn lại ở Chùa 1/3 đàn để giữ chỗ. Khoảng cuối tháng tư, khi thời tiết thay đổi, tiếng sấm đầu mùa mưa báo hiệu, lác đác đây đó mưa rơi, cây trái phát triển, dơi thay màu lông. Lúc đó dơi quay về Chùa chuẩn bị cho mùa sinh sản. Từ đó, bà con xung quanh vùng xem chu kỳ sinh sản của Dơi như thời điểm vào mùa - họ chuẩn bị giống má, đắp bờ, nhổ cỏ, cày ải, cuốc bẩm chờ mưa để gieo hạt.

Dơi không ấp trứng như loài chim khác, nên chúng không xây tổ. Dơi có hai chân, mỗi bàn chân có 5 ngón và có móc nhọn cong như móc câu, trên bả vai mỗi cánh có một lưỡi móc, chúng không đứng đậu như những loài chim khác, mà dùng hai chân móc lấy cành cây quay lộn đầu xuống treo mình lủng lẳng, kết lại với nhau như những chùm trái cây, lúc nào muốn thải phân hay nước thải chúng dùng sức bật mạnh hai phía cánh tung thân lên, mở móc cánh cấu chặt cành cây giữ thăng bằng và bắt đầu tuôn nước thải hoặc phân xuống, khi xong chúng lại trở lại trạng thái bình thường.

Dơi sinh sản vào đầu tháng năm dương lịch, khi sắp đẻ thì một cánh móc lấy nhánh cây, một cánh đỡ lấy con ôm vào lồng ngực. Đẻ xong vài giờ dơi con bắt đầu mở mắt, lúc đó chúng đã biết đói, bú mẹ như chó con mới lọt lòng và trong đêm đó dơi mẹ vẫn đi kiếm ăn bình thường, con chúng mang theo, ôm ghì sát vào lồng ngực. Dơi con lớn rất nhanh, hơn một tháng tuổi chúng đã biết nắm níu nhánh cây, đồng thời cánh của chúng cũng bắt đầu mọc và mở rộng ra, sức nặng dơi con tăng dần lên. Lúc này, dơi mẹ không còn đủ sức để mang con nữa và tập cho dơi con nắm níu nhánh cây rồi để chúng ở lại, không mang theo khi Dơi mẹ đi ăn. Với bản năng sẵn có, dơi con tập chuyền từ nhánh cây gần đến nhánh cây xa, qua tập luyện nhiều lần, chúng từ từ biết vỗ cánh để bay. Chuyến bay đầu tiên của chúng nhằm từ cây thấp, khoảng cách vài ba mét, đến lúc vững vàng thì bay sang ngang và bay cao hơn. Chúng tập bay ban đêm chứ không tập bay ban ngày, nhất là những đêm trăng sáng, chúng tập bay đan xen nhau trông rất đẹp. Thỉnh thoảng trong lúc tập bay có một vài con bị rơi xuống đất không bay lên được, chúng lê tìm nơi nào có cây cao, dùng móc cánh ở bả vai câu chặt nhánh cây và dùng sức mạnh của hai cánh đưa hai chân câu chặt nhánh cây, sau đó chúng buông thòng trúc đầu xuống, dồn sức bật mạnh, mở rộng hai cánh bay đi. Còn khi dơi mẹ xuống cứu con bị rớt xuống đất, một cánh chúng ôm ghì chặt lấy con áp vào lồng ngực, một cánh chống xuống đất bò nghiêng, cố tìm đến nơi có cây cao để cất cánh.

Dơi cũng biết yêu thương nhau, nhất là dơi mẹ. Trước khi đi ăn dơi mẹ cho con bú và lúc trở về chúng đều nhớ đem mồi về cho con. Sau thời gian chào đời và tập luyện, bước vào tháng thứ 3 dơi con bắt đầu biết bay, nhưng không đủ sức đi ăn xa, dơi mẹ dẫn con đi ăn những nơi gần. Nhờ sự ôm ấp chăm sóc của dơi mẹ, dần dần dơi con bắt đầu trưởng thành gia nhập vào bầy đàn một cách nhanh chóng, cứ thế đàn dơi ngày càng được bổ sung. Hiện nay không ai tính được đàn dơi của “Chùa Dơi” này có bao nhiêu con, chỉ ước lượng khoảng vài vạn con, dơi sinh sản thì thấy, nhưng tuổi thọ của chúng được bao lâu thì không ai theo dõi và biết được chính xác, vì chúng không trở về đầy đủ. Thỉnh thoảng các nhà sư phát hiện thấy lác đác có vài con bỏ xác, có thể do con người săn bắt và làm chúng bị thương, kiệt sức mà chết; hoặc cành cây bị gãy bất thình lình, những con không may đập đầu vào vật cứng mà chết.

Phù điêu trạm trổ ở chùa Mahatúp. Ảnh:N.H

Dơi có phản xạ rất kỳ diệu, chúng có khả năng tiếp nhận, dự đoán được qua những tín hiệu, hiện tượng nào đó có thể xảy ra gây nguy hiểm đến sinh mạng của mình, dơi là động vật sống có nề nếp, có bầy đàn.

Khi đi kiếm ăn, dơi đầu đàn bay lên dẫn đầu, sau đó là những con Dơi khác lần lượt bay theo nhập đàn, chúng vừa bay vừa xếp hàng, lượn vài vòng trên bầu trời khu vực Chùa, như cầu khẩn đức Phật ban phước lành trước khi đi kiếm ăn. Quang cảnh hoàng hôn ở “Chùa Dơi” rất rộn ràng, chi chít tiếng dơi gọi đàn, xào xạt tiếng vỗ cánh va chạm vào cành cây, tạo nên không khí khẩn trương; từng đàn dơi lượn bay trên bầu trời hoàng hôn, sau vài lần lượn bay chúng dần dần lẫn vào bóng đêm, chúng bay theo hướng đã định, bay theo đường nào thì về đường ấy. Khi thời tiết tốt thì dơi bay cao, thời tiết xấu thì dơi bay thấp. Dơi đi ăn suốt cả đêm đến bình minh thì trở về, dơi không bao giờ bay qua nóc ngôi chánh điện (lúc đi cũng như lúc về). Đặc biệt hơn là dơi chỉ đậu trên những tán cây của khuôn viên Chùa, những tán cây bên ngoài khu dân cư sát ngay Chùa thì chúng không đậu; sự việc trên được các sư giải thích: Đó là chuyện thường thôi, vì trong khuôn viên của Chùa quang cảnh yên tịnh, con dơi thích nghi với môi trường hoang dã gần gũi với thiên nhiên, còn bên ngoài bị vây đuổi, săn bắt nên nó không trú ngụ và có một điều mà không ai lý giải được là dơi không ăn trái cây vùng lân cận cũng như trái cây trong khuôn viên Chùa, mà phải đi ăn rất xa.

Từ những hiện tượng gần như là huyền bí của đàn dơi ở “Chùa Dơi”, tiếng đồn vang xa, khách thập phương ai cũng muốn tới viếng thăm để tận mắt chứng kiến. Từ thời chiến tranh chống Mỹ “Chùa Dơi” đã vang tiếng với những điều huyền bí , cho nên khuôn viên Chùa lúc ấy cách ly với cảnh sinh hoạt bên ngoài. Vì vậy, cán bộ của ta thường lui tới hoạt động cách mạng.

Cho đến ngày nay “Chùa Dơi” rất nổi tiếng, vì phong cảnh hữu tình, gần gũi với thiên nhiên, có quần thể kiến trúc tôn giáo chính thống của dân tộc Khmer và bầy dơi huyền bí (theo quan điểm tín ngưỡng của từng dân tộc) đã thôi thúc khách tham quan đến viếng Chùa ngày càng đông đúc.

Theo quan niệm của người Hoa thì con dơi là điềm phúc, còn gọi là phước; phúc (phước) của người Hoa là: “Phước-Lộc-Thọ”. Trong đó, ông Phúc (Phước) ứng với con dơi, ông Lộc ứng với con nai, ông Thọ ứng với cây Tùng, cho nên người Hoa xem hình tượng con dơi như là phúc (phước). Nhưng con dơi ở “Chùa Dơi” đậu quay đầu ngược xuống đó là chữ phúc (phước) treo ngược, là: “Phú táo” tiếng phát âm của người Hoa (tức là: “Phúc đáo” nghĩa là phúc đến rồi). Vấn đề này cũng được ông Trần Bình viết bài đăng trên “Kiến thức ngày nay” (Xuân Quý Dậu năm 1993 trang 62-63). Cho nên khách tham quan phần nhiều là người Hoa, người Hoa ở Sóc Trăng cũng quan niệm như thế.

Năm 1990 chiếc tàu thám hiểm đại dương, do ông YVES.COUS TEAUX là thuyền trưởng và con ông là JACK COUS TEAUX đã đến chùa Dơi để nghiên cứu về động vật sống trong môi trường thiên nhiên. Ông COUS TEAUX đã cho máy bay trực thăng bay đảo trên những tán cây trong khuôn viên chùa, đàn dơi bay lên rợp cả một góc trời, đoàn nhân viên của ông YVER COUS TEAUX đã ghi hình ảnh bằng camera và máy ảnh để làm tài liệu nghiên cứu.

Đây cũng là một sự kiện lạ mà không ở chùa nào có được, heo năm móng và dơi là những động vật rất gần gũi với chùa, dơi không những treo mình trên cây mà còn được các vị sư chăm sóc và thuần hóa. Khoảng năm 1980 vị Đại Đức đời thứ 17 là ông Thạch Chia có tài nuôi và thuần chủng dơi, dơi luôn quấn quít bên ông như những chú chó, chú mèo mà người ta thường nuôi trong nhà. Đặc biệt là khi ông đi vắng, dơi ở lại phòng khách của ông.

Đến khuôn viên chùa, ta nhìn thấy cổng chùa về hướng Tây - Bắc, cổng chùa được xây dựng theo kiến trúc tôn giáo trang trí các hoạ tiết các hoa văn hình cánh sen và hoa cà ri cách điệu.

Công trình kiến trúc tiêu biểu trong quần thể kiến trúc “Chùa Dơi” là ngôi chính điện. Ngôi chính điện được xây dựng từ năm 1569 bằng gỗ, trên mái được lợp lá dừa nước, từ trước đến nay chùa được trùng tu nhiều lần. Đặc biệt, năm 1960 ngôi chính điện được thay đổi toàn bộ chất liệu, Bê tông đã thay thế gỗ, mái ngói thay lá dừa nước. Chiều dài 20 m 8, chiều rộng 11 m 3; ngôi chính điện được xây dựng trên nền cao hơn mặt đất tự nhiên 1 m bao quanh là đá kết xi-măng nền rộng 30 m 7, dài 37 m. Sân chính điện được trát xi-măng, có vòng rào lan can và 04 ngõ vào. Vòng rào lan can cách ngôi nhà chính điện mỗi hướng là 2 m 20. Nền chính điện cao hơn sân chính điện 0,7 m. Mặt bằng chính điện hình chữ nhật trải dài theo hướng Đông Tây. Cửa chính quay ra hướng đông. Phần mái chính điện là một kết cấu đặc biệt, gồn 04 hệ thống mái chồng lên nhau, với khoảng cách nhất định. Trên 04 mái chồng lên nhau đều có trang trí hình tượng con rồng ở các góc. Hình tượng rồng của người Khmer khác với người Hoa và người Việt, đầu rồng có sừng uốn lượn, mảnh mai, thân rồng theo mô típ của loài cá Poon - Co, nên rồng không có chân, trên lưng giương những đao mác nhọn, cong về phía đuôi, hình tượng rồng được bố trí theo chiều dài đòn dong. Mái tiếp giáp với cột trang trí hình tượng chim Cay - No, thể hiện sức mạnh như chống đỡ cả bầu trời và che chở cho con người ở trần gian. Bên trong chánh điện có tượng Phật sơn son thiếp vàng, cao khoảng 2m, trên bệ thờ cao khoảng 1,5m được đắp nổi nhiều hoa văn hình cánh sen. Ngoài tượng Phật lớn còn có nhiều tượng Phật nhỏ khác.

Trên bệ thờ được làm bằng gỗ sơn son thiếp vàng, trang trí hoa văn hình chim muông, hoa lá theo mô típ đình, chùa truyền thống của người Việt.

Đặc biệt phía dưới bệ thờ ở hai bên tượng Phật có hai họa tiết hình con dơi đối xứng nhau. Trần chính điện được trang trí bằng những mảng tranh sơn dầu hình tiên nữ đang múa trên bầu trời, làm tăng thêm phần sinh động và trang nghiêm cho nội thất.

Đối diện với ngôi chính điện về hướng Tây là dãy nhà Sa - La (nhà hội của sư sãi), phòng của sư trụ trì, phòng khách và rải rác xung quanh ngôi chính điện là những tháp đựng cốt tro người chết, mỗi tháp mang dáng kiểu khác nhau. Nhìn chung toàn bộ quần thể kiến trúc cân đối nhau một cách hài hoà, làm chúng ta liên tưởng đó là cả một rừng hoa văn với những bố cục hài hoà, gọn gàng, những đường nét uyển chuyển đầy ấn tượng… toát lên tinh thần lao động cần cù và sáng tạo qua đôi bàn tay khéo léo của người Khmer.

Xung quanh quần thể kiến trúc của chùa là những tán cây cổ thụ, được các vị sư săn sóc hàng ngày, để khách đến tham quan và chiêm ngưỡng những chú dơi treo mình lủng lẳng trên các nhánh cây trong khuôn viên chùa, du khách cứ ngỡ ngàng tưởng như cây trái trúng mùa với những chùm quả nặng trĩu. Không khí mát mẻ, thanh tịnh chỉ có tiếng gió xào xạc và thỉnh thoảng xen vào tiếng kêu chí chít của những chú dơi con tìm mẹ… Tất cả tạo thành một bản hoà tấu với nhạc điệu du dương của thiên nhiên làm say mê lòng người.

Hiện nay, các hiện vật trong chùa dơi còn chủ yếu là tượng các Phật như: tượng Phật Thích Ca ngồi thiền định cao 2 m bằng xi-măng và nhiều bức tượng nhỏ khác bằng xi-măng và vật liệu khác do phật tử cúng chùa. Ngoài ra còn có khung cửa võng (bao lam) bằng gỗ sơn son thiếp vàng chạm trổ hình chim muông, hoa lá, đặc biệt có hoạ tiết hình những chú dơi; một cái giường chạm hoa lá tinh sảo, sơn son thiếp vàng; hai tủ lớn có chạm hoa văn theo mô típ cổ truyền của người Khmer. Đặc biệt hơn cả là trong sảnh của đại dức trụ trì và phòng khách còn có bức tượng của một đại đức đã viên tịch, với kích thước giống y như người thật trong tư thế thiền định làm bằng xi-măng đã làm cho gian phòng khách ấm cúng và sinh động, hấp dẫn.

Chùa Dơi với quần thể kiến trúc đẹp, có giá trị thẩm mỹ cao. Ngoài chức năng thoả mãn nhu cầu sinh hoạt của đời sống tâm linh, còn hướng con người đến chân - thiện - mỹ, làm điều hay lẽ phải, làm việc thiện, tích phúc cho đời. Ở đây chúng ta thấy rõ nghệ thuật tạo hình Khmer đồng bằng sông Cửu Long, trong đó chùa Dơi là một minh chứng, mang tính tôn giáo. Nhưng Phật giáo Nam tông trong xã hội Khmer hiện nay không phải là tôn giáo thoát tục, lánh xa cuộc đời mà hoà nhập vào cuộc sống đời thường với phương châm “tốt đạo, đẹp đời”.

Cái đẹp và sức thu hút của Chùa Dơi là cảnh quan gần gũi với thiên nhiên, với một quần thể kiến trúc mở, hoà quyện với môi trường sống của con người - thực vật - động vật nơi đây đã gắn bó với con người từ lâu đời. Hơn nữa, cộng đồng dân cư ở đây có sự giao lưu giữa ba dân tộc Việt - Khmer - Hoa kết hợp với tinh hoa văn hoá, nghệ thuật trong cuộc sống, học hỏi lẫn nhau cùng phát triển. Ngoài ra, Chùa Dơi còn là trung tâm sinh hoạt giáo dục - văn hoá và các lễ thức cúng kiếng, lễ hội của đồng bào Khmer, vừa là tụ điểm sinh hoạt văn hoá của cộng đồng cư dân địa phương. Ngày 12 tháng 02 năm 1999, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ra Quyết định số 05/1999/QĐ-BVHTTcông nhận Chùa Dơi là di tích nghệ thuật cấp quốc gia.

Chùa Dơi là một môi trường sinh thái kết hợp hài hoà giữa thiên nhiên, văn hoá và cuộc sống đời thường. Chùa còn là một thắng cảnh, một địa điểm du lịch, tham quan và hành hương viếng Phật nổi tiếng của du khách trong và ngoài tỉnh. Danh lam thắng cảnh Chùa Dơi Sóc Trăng sẵn sàng đón khách thập phương ghé thăm và chắc hẳn làm chuyến đi của du khách thêm nhiều bất ngờ, thú vị… xin bạn hãy nhanh chân.

(SƯU TẦM)


Thứ Tư, 18 tháng 3, 2009

Tìm hiểu về ẩm thực của đồng bào dân tộc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long



Bún nước lèo.

Mặc dù cộng cư lâu dài với các dân tộc Việt, Hoa, Chăm anh em, nhưng đồng bào dân tộc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn bảo tồn, phát huy được những nét đẹp văn hóa truyền thống. Bên cạnh nghệ thuật sân khấu, âm nhạc, lễ hội, trang phục... thì tập quán cư trú, văn hóa ẩm thực cũng là một khía cạnh của văn hóa đặc biệt của bà con Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Trong một thời gian dài người Khmer đã cộng cư với các dân tộc Việt, Hoa, Chăm trên cùng một địa bàn cư trú nên văn hóa có sự tiếp xúc và giao thoa là điều tất nhiên. Người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay không chỉ có các món ăn truyền thống của dân tộc mình mà còn ăn các món của các dân tộc khác - làm phong phú thêm cho văn hóa ẩm thực. Tuy vậy, trong sinh hoạt đời thường, cũng như trong sinh hoạt lễ hội truyền thống, người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn có ý thức giữ gìn và phát triển những món ăn mang tính đặc trưng của dân tộc.

Văn hóa ẩm thực của người Khmer hết sức phong phú và đa dạng. Từ các món ăn trong sinh hoạt thường ngày, đến các món ăn trong các dịp lễ Tết, giỗ chạp của người Khmer đều thể hiện được sự ứng xử của con người đối với môi trường thiên nhiên. Họ lựa chọn các thức ăn có nguồn gốc từ tự nhiên, chế biến và sáng tạo ra nhiều món ăn khác nhau. Đến nay, đồng bào Khmer đã có được một danh sách dài về các món ăn đặc trưng. Trong đó, có các món tiêu biểu như: mắm bò hóc, canh chua, canh som lo, bún nước lèo, cốm dẹp, bánh thốt nốt, nước thốt nốt,v.v...

Tập quán của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long là cư trú ở nông thôn, trên những giồng đất cao. Phần lớn bà con Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long chuyên sống bằng nghề nông, chủ yếu là sản xuất lúa gạo, hoa màu, đánh bắt thủy hải sản với quy mô nhỏ.

Đặc biệt, đối với người Khmer, mắm không chỉ là một món ăn thường dùng trong bữa cơm, mà nó còn là một thứ gia vị đặc biệt, đôi khi mang tính bắt buộc trong việc chế biến nhiều món ăn. Chỉ riêng mắm cũng có nhiều loại, loại nào cũng đòi hỏi sự khéo léo, công phu và kỹ thuật chế biến. Mắm bò hóc là một ví dụ điển hình.

Mắm bò hóc (Pro-hốc) là món ăn khá đặc trưng của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long... thể hiện công phu, sáng tạo và đôi tay khéo léo bà con ta. Mắm bò hóc có thể được làm từ nhiều loại cá nhỏ, như: cá sặc, cá chốt, cá lòng tong... đến những loại cá lớn như: cá trê, cá lóc.... Sau khi đánh bắt về, bà con lựa những con cá còn tươi đem đánh vẩy, mổ bụng ra rồi rửa cho sạch, đem phơi nắng cho ráo nước. Khi cá đã ráo nước thì ướp muối, trộn với cơm nguội, cho vào hũ, hoặc khạp, rải muối hột vào rồi gài cứng, đậy nắp lại, để khoảng từ bốn tháng đến sáu tháng là ăn được. Muốn ăn, người ta vớt con mắm ra, để nguyên con đem kho, thêm một ít gia vị chứ không cần chế biến gì thêm. Ăn mắm sống thì kèm chanh, ớt với khế, chuối chát, rau sống... Hoặc chưng mắm thì cho vào ít lá chanh, lá gừng xắt nhỏ, ớt, đường và chanh. Ngoài ra, người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long còn có loại mắm chua gọi là Pò ót (Pro ot), được làm từ tép bạc mòng - một loại tép nhỏ rất phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long. Khi chế biến, người ta trộn với đu đủ, riềng hoặc gừng non, để khoảng 10 ngày là ăn được.

Ngoài dùng làm món ăn chính, người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long còn dùng mắm bò hóc để làm gia vị chính trong việc nêm nếm các món ăn khác, như: nêm vào canh som lo, bún nước lèo, nước bún cà ri, hoặc đôi khi dùng làm nước chấm cho các món cá nướng, rắn nướng...

Canh som lo cũng là một món canh tiêu biểu trong kho ẩm thực của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long. Nó khác với tất cả các loại canh của người Việt hay người Hoa. Cách nấu món canh này cũng rất công phu: người ta dùng thịt, cá tươi nấu với rau ngổ, chuối ghém, hoặc trái đu đủ non và được nêm bằng mắm bò hóc. Ngay cả món canh này, người Khmer cũng có nhiều loại khác nhau. Như: som lo mít, som lo bình bát... Mỗi loại canh đều thể hiện sự phong phú, tài khéo léo khác nhau của người nấu. Đầu tiên, người ta lấy mắm bò hóc cho vào nồi nước nấu nhừ, lược bỏ xương để lấy nước. Sau đó cho vào ba, bốn gốc sả đập dập. Khi cần nấu với mít non thì người ta cho mít non vào, cần nấu với bình bát thì cho bình bát vào. Nếu nấu với cá lóc thì cá lóc được lọc lấy thịt, bỏ xương, cho thêm ít tép vào nấu chung. Món này đã được bà con người Hoa, người Việt tiếp thu và chế biến lại cho hợp với khẩu vị của mình.

Đặc biệt, món bún nước lèo của người Khmer được cả người Việt và người Hoa ưa thích và đã trở thành một đặc sản ẩm thực chung của cư dân Đồng bằng sông Cửu Long, được nhiều du khách phương xa ưa chuộng . Món này, người nấu dùng tôm, cá nấu nhừ lấy nước cốt, đem cá ra rút hết xương, nước cốt của cá được nêm muối ớt, sả... bên cạnh hai món không thể thiếu là ngải bún giã nhỏ và mắm bò hóc. Đây là một thứ nước lèo rất tuyệt hảo.

Cốm dẹp thường được người Khmer làm trong dịp lễ cúng trăng (Ok-om-bok). Hằng năm, cứ vào ngày 15 tháng 10 âm lịch, đồng bào Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu vào lễ hội cúng trăng. Lúc này, ngoài đồng, lúa nếp cũng đã bắt đầu chín, vẫn còn thơm mùi sữa. Người ta gặt những hạt lúa nếp đó đem về rang nóng rồi giã dẹp trong cối để tạo thành một món cốm dẹp vàng thơm, vừa béo vừa thơm và ngọt lịm trong đêm lễ hội cúng trăng. Cốm dẹp thường được ăn bằng cách trộn với dừa, đường cát tạo thành một hỗn hợp các hương vị làm ấm lòng thực khách trong đêm lễ hội chờ trăng lên.

Cũng như các dân tộc khác ở Đồng bằng sông Cửu Long, người Khmer có nhiều món bánh đặc trưng của mình. Trong đó, phổ biến nhất là các loại bánh ngọt, bánh tét Bánh ngọt, bánh tét có mặt gần như hầu hết trong các dịp lễ hội của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tiêu biểu có các loại bánh: bánh Cô Nóc, bánh củ gừng, bánh tai yến... nhưng tiêu biểu hơn cả có thể nói là bánh thốt nốt. Nguyên liệu làm bánh từ trái thốt nốt- trái thốt nốt có nhiều ở những khu vực đông đảo người Khmer sinh sống. Đúng như tên gọi của nó, bánh được làm từ trái thốt nốt. Để làm món bánh này, người ta bẻ trái thốt nốt xuống, đem chà vào rổ để lấy bột, đem bột này trộn với bột gạo, thêm chút dừa nạo, sau đó lấy lá thốt nốt gói lại, rồi đem hấp cho bánh chín nở lên. Bánh thốt nốt hấp chín có màu vàng ươm với mùi thơm hết sức đặc trưng của trái thốt nốt không lẫn vào đâu được. Cắn vào bánh, cảm nhận có vị ngọt tinh khiết, cộng với vị béo của dừa làm cho người ăn cảm thấy ngon vô cùng.

Nhìn chung, thức uống của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long không khác mấy so với các dân tộc khác. Duy chỉ có nước thốt nốt là loại thức uống mang tính đặc trưng của dân tộc này. Cây thốt nốt được trồng nhiều ở vùng có đông đảo người Khmer sinh sống. Thân như cây dừa nhưng lá như lá cọ. Trái thốt nốt có rất nhiều công dụng, nào uống tươi, ăn cái, làm đường, và làm cả bia chua. Đặc biệt, nước thốt nốt uống tươi là một thứ nước giải khát tuyệt vời cho du khách gần xa. Nước thốt nốt có hương vị rất đặc biệt, không lẫn với bất cứ hương vị của thức uống nào khác. Uống vào làm mát rượi cả cuống họng, ngọt lịm, thơm lừng nhưng lại ngọt thanh chứ không gắt cổ, làm tan đi bao nỗi mệt nhọc sau những ngày lao động vất vả.

Trước đây, nước thốt nốt được người ta để trong ống tre, gánh đi bán. Khi có khách, người bán sẽ dừng quang gánh lấy ra từng ống tre cho khách uống. Ngày nay, cảnh đó ít thấy, mà thay vào đó, người ta bổ trái thốt nốt ra, nạo những muối cùi trắng muốt cho vào ly, cho nên du khách có thể vừa uống nước vừa ăn cái. Cái thốt nốt rất bùi và béo hòa quyện với mùi thơm của nước thốt nốt làm cho ly nước giải khát của người uống có hương vị lạ, ngon tuyệt vời.

Nhìn chung, các món ăn của đồng bào dân tộc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long tuy không cầu kỳ, nhưng nó phản ánh khá rõ nét khía cạnh văn hóa trong ẩm thực của cộng đồng này: phong phú, đa dạng và mang bản sắc riêng.

Bài, ảnh: TRẦN PHỎNG DIỀU

Thứ Năm, 19 tháng 2, 2009

Campuchia: Xét xử cựu thủ lĩnh Khmer đỏ


30 năm sau khi chế độ diệt chủng do Pol Pot cầm đầu bị sụp đổ, phiên tòa đầu tiên xét xử tội phạm diệt chủng ở Campuchia do Liên hợp quốc (LHQ) bảo trợ đã chính thức được mở ngày 17/2.
Ước tính, khoảng hai triệu người Campuchia đã chết vì đói, vì lao động khổ cực và bị tàn sát trong thời kỳ bốn năm Khmer Đỏ bắt người dân từ thành phố về nông thôn. Nay, những tội ác tày trời này sẽ bị đưa ra trước ánh sáng công lý.
Ngày trọng đại
Phát biểu trước báo giới hôm 16/2, người phát ngôn Toà án xét xử Khmer Đỏ Reach Sambath nói: "Đây sẽ là ngày rất trọng đại với người dân Campuchia vì là phiên toà mà họ chờ đợi suốt 30 năm đang sắp diễn ra".
Phó đồng công tố viên vụ án, ông William Smith thì cho biết, trong ngày 17/2, các quan tòa sẽ quyết định những vấn đề thủ tục và nghe các cáo trạng. Ông William Smith nói: "Phiên tòa quyết định phiên xử sẽ tiến hành như thế nào và các loại bằng chứng mà công chúng sẽ được biết. Vì vậy, dĩ nhiên đây là một ngày quan trọng. Đây là lần đầu tiên có người được đưa ra để giải thích cho những hành động tàn ác của Khmer Đỏ".
Hơn một 1.000 người đã tới tham dự phiên tòa này. Hàng trăm nhà báo, quan sát viên quốc tế cũng đã tập trung tại trụ sở tòa án để chứng kiến phiên xử. Bị cáo là Kaing Guek Eav, 67 tuổi, có biệt danh là Duch, từng là giám đốc nhà tù S-21 khét tiếng ở Phnom Penh.


Quang cảnh phiên tòa xét xử Kaing Guek Eav tại Phnom Penh

Thông tin từ báo chí cho biết, Duch bị cáo buộc đã chỉ huy các vụ thảm sát và tra tấn ít nhất 16.000 tù nhân trong những năm 1975-1979. Chỉ có 14 tù nhân trong số này được cho là đã thoát chết. Nhiều nhân chứng kể lại rằng, nơi mà Duch dùng để tử hình các tù nhân từng được gọi là "Cánh đồng chết".
Trước khi bị chuyển giao cho Tòa án xử tội diệt chủng ở Campuchia, Duch đã bị giam giữ tại một nhà tù quân sự từ ngày 10/5/1999. Trong thời gian chuẩn bị cho phiên tòa, cựu thủ lĩnh Khmer Đỏ này đã hợp tác với các nhà điều tra và hứa sẽ tiết lộ một số thông tin quan trọng về các quyết định của nhóm thủ lĩnh Khmer Đỏ.
Người ta hy vọng, thông tin của Duch có thể giúp cho những phiên xét xử dự kiến diễn ra vào cuối năm nay về 3 bị đơn khác. Do đó, lần này, Duch xuất hiện vừa với tư cách bị đơn, vừa là nhân chứng. Hắn đã được đưa tới tòa án bằng một xe chống đạn.
Gian nan con đường tìm công lý
Trước khi phiên tòa diễn ra, nhiều nạn nhân, thân nhân các nạn nhân của chế độ diệt chủng đã e ngại những bị đơn, hiện đã lớn tuổi và ốm yếu, có thể chết trước khi phải đối mặt với công lý. Tương lai phiên tòa xét xử Khmer Đỏ chỉ được bảo đảm khi Ngoại trưởng Nhật Bản Hirofumi Nakasone hôm 11/1 cam kết với Thủ tướng Campuchia Hun Sen về khoản đóng góp 21 triệu USD để vận hành tòa án này. Vì thế, sau hơn một thập niên đấu tranh, việc mở phiên tòa phúc thẩm xét xử cựu thủ lĩnh Khmer Đỏ là một bước đột phá và là một phần trong nỗ lực của chính phủ Campuchia trong việc trừng phạt những kẻ phải chịu trách nhiệm về cái chết của khoảng 2 triệu người dân nước này.
Theo hồ sơ được các công tố viên Campuchia nộp lên tòa án xét xử các tội ác diệt chủng hồi năm 2007, 5 thủ lĩnh cấp cao của Khmer Đỏ bị cáo buộc tội ác chống lại loài người gồm: Pol Pot (đã chết năm 1998), Nuon Chea, Ieng Sary, Khieu Samphan và Duch. Những tên này đều phạm những tội danh sau: hành quyết các cựu chiến binh, công chức và giới trí thức; đày 3 triệu dân Phnom Penh và người dân ở các thành phố khác vào trại tập trung khiến hơn 10.000 người chết vì đói và kiệt sức; đày dân vào các trại tập trung và biến họ thành nô lệ; thảm sát các nhóm chủng tộc và những nhóm người thuộc nhiều nước đã định cư lâu đời ở Campuchia như người Chăm, người Việt, người Hoa, người Thái, người Lào…
Các số liệu thống kê cho thấy, sau các cuộc tàn sát, nhóm người Chăm theo đạo Hồi, các nhóm thiểu số thuộc dân tộc Thái và Lào bị mất 1/3; nhóm người Hoa mất một nửa; hơn 100.000 người Việt bị trục xuất vào năm 1975 và khoảng 10.000 người khác bị giết. Các tu sĩ Phật giáo cũng bị loại bỏ với cùng một vẻ lạnh lùng, tàn ác như thế: hàng ngàn thầy tu bị hành quyết và chùa chiền bị đốt phá…
Những bằng chứng về tội ác diệt chủng chống lại loài người này hiện đang được lưu giữ trong hơn 300.000 trang tài liệu tịch thu từ Khmer Đỏ. Giới quan sát nhận định, phiên tòa xét xử Duch được coi là thắng lợi đầu tiên của chính quyền Campuchia trong hơn một thập kỷ đấu tranh tìm lại công lý cho nạn nhân và thân nhân các nạn nhân của chế độ diệt chủng Pol Pot.
Campuchia vừa cho xuất bản một cuốn sách giáo khoa đầu tiên về "Cánh đồng chết" nhằm giáo dục cho giới trẻ biết về giai đoạn từ năm 1975-1979, khi Khmer Đỏ nắm quyền và giết chết 2 triệu người. Trước mắt, hơn 500.000 cuốn sách này sẽ được phát hành trong năm 2009 và được đưa vào chương trình dạy học ở bậc trung học.
Hiện tại, Bộ Giáo dục Campuchia đang xem xét đề án sử dụng các tư liệu lịch sử và hình ảnh về các phiên tòa sắp tới để đưa vào giới thiệu trong các lớp ở bậc sơ học và tiểu học
.

Sông Thương

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2009

"Đem đại nghĩa để xóa hung tàn"



(VietNamNet) - Đó là lời đúc kết của Đại tướng Lê Đức Anh khi hồi tưởng chiến thắng họa diệt chủng Polpot ở Campuchia ngày 7/1/1979. Cho dù đã từng có những đánh giá khác nhau, thế giới đã phải thừa nhận rằng: chính Việt Nam đã cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi một trong những thảm họa diệt chủng tàn khốc nhất trong lịch sử thế kỷ XX.

Đại tướng Lê Đức Anh
29 năm đã trôi qua nhưng ký ức vẫn còn sống động trong tâm tưởng của vị Đại tướng đã trực tiếp cầm quân ở chiến trường Campuchia nhiều năm trời.

“Quyết định ngày 23/8/1978 tiến công vào Campuchia để đánh tan lực lượng quân sự Polpot và xóa bỏ chế độ diệt chủng là quyết định mang tính lịch sử, không thể nào khác được”, Đại tướng khẳng định.

“Vào thời điểm đó, chế độ diệt chủng Polpot, sau hơn 3 năm, đã giết hại gần 3 triệu người. Xã hội Campuchia từ một ốc đảo hoà bình trong thập kỷ 60 đã bị Polpot biến thành một trại khổ sai khổng lồ đầy rẫy những hố chôn người.

Đối với Việt Nam, sau hàng loạt các hành động khiêu khích tại biên giới, ngày 21/12/1978 Polpot sử dụng 10 sư đoàn mở chiến dịch tiến công trên toàn tuyến biên giới, mục tiêu chủ yếu là chiếm thị xã Tây Ninh của VN.

Kể từ tháng 5/1975 đến ngày 23/12/1978 chúng đã giết hại hơn 5000 dân thường VN, bắt và đưa đi thủ tiêu hơn 20.000 người. Hàng nghìn trường học, bệnh viện, cơ sở y tế, nhà thờ, chùa chiền bị đốt phá, nửa triệu dân sát biên giới phải bỏ nhà, bỏ đất, bỏ ruộng chạy dạt về phía đông, sống chen chúc bên những hố bom B52 chưa kịp lấp …

Trước lời kêu cứu khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, trước nguy cơ diệt vong của dân tộc láng giềng anh em Campuchia, chúng ta đã phải đi tới quyết định của những người có lương tâm: Phải xoá bỏ chế độ diệt chủng! Chừng nào còn chế độ diệt chủng Polpot thì nhân dân Campuchia còn phải đắm chìm trong thảm hoạ diệt chủng và Việt Nam không bao giờ có hoà bình và ổn định để xây dựng đất nước.

Ngày 7/1/1979, thủ đô Phnompenh được giải phóng và đến ngày 17/1/1979, sau 25 ngày, tất cả các thành phố, thị xã trên đất nước Campuchia đã được hoàn toàn giải phóng khỏi chế độ diệt chủng.

Cũng phải nói thêm rằng, nếu không có sự ủng hộ to lớn của nhân dân Campuchia, quân đội Việt Nam không thể đánh tan lực lượng quân sự hơn 21 sư đoàn của Polpot nhanh gọn đến như vậy.


Nhìn lại sự kiện ngày 7/1/1979, phải khẳng định trước sau như một, đó là hành động nhân đạo và chính nghĩa hiếm có, một quyết định thuận tình hợp lẽ của một dân tộc luôn “lấy đại nghĩa để xóa hung tàn”. Quân đội và nhân dân Việt nam đã cứu một dân tộc láng giềng, cứu nhân dân Campuchia anh em thoát khỏi hoạ diệt chủng, thực hiện hồi sinh một dân tộc, xây dựng lại đất nước từ những “cánh đồng chết” hoang tàn.

Trầm ngâm, Đại tướng Lê Đức Anh kể, khi vào đến Campuchia, ông và các đồng đội không khỏi bàng hoàng khi tận mắt chứng kiến những gì đã xảy ra còn khủng khiếp ngoài sức tưởng tượng của con người.

“Sau khi giải phóng Campuchia, nhiệm vụ hàng đầu là cứu đói, cứu khổ. Nhiều người dân Campuchia đã được cứu sống ngay khi sắp bị Polpot hành quyết. Có những người bị kiệt sức không tài nào đi lại đến mức bộ đội tình nguyện Việt Nam phải khiên, cõng, võng đưa về. Những người Campuchia chạy trốn khỏi hoạ diệt chủng, khi quay trở lại còn không chịu nổi mùi xú uế bốc lên.

Trên toàn bộ đất nước Campuchia vừa được giải phóng, những người lính tình nguyện Việt Nam đã giúp hàng vạn, hàng triệu dân tiều tuỵ, đói khát, từng đoàn, từng đoàn người trở về quê cũ nơi bọn Polpot buộc họ phải rời bỏ. Ở đâu cũng phải cứu đói, cứu đau, giúp dân bắt tay vào sản xuất và làm lại nhà cửa, lập lại bệnh xá, khôi phục trường học, chùa chiền.

Thấu hiểu tình cảnh khó khăn của người dân, nhiều chiến sĩ và chuyên gia VN được phái về nước đem giống lúa, hạt rau tốt của quê hương mình sang giúp từng gia đình, từng xóm ấp. Các chùa chiền, cung điện được niêm phong và bảo toàn nguyên vẹn cho đến khi trao trả cho phía bạn.

Đối với tù binh và hàng binh Polpot, chúng ta đối xử rất nhân đạo; những kẻ bị thương được cứu chữa và giúp trở về quê; những người khoẻ mạnh được giáo dục và cho trở lại rừng kêu gọi tàn quân Polpot ra hàng, có người còn được cho mang theo súng. Với những kẻ cầm đầu, chúng ta để cho Liên hiệp Quốc xét xử.

Chỉ có thể đánh giá đúng sự hồi sinh kỳ diệu của dân tộc Campuchia nếu đặt nó trong hậu quả khủng khiếp mà chế độ diệt chủng Polpot đã gây ra.

“Lịch sử luôn là lịch sử và sự thật luôn chỉ có một sự thật mà thôi. Cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi hoạ diệt chủng, thực hiện hồi sinh dân tộc, đó là sự nghiệp quốc tế cao cả và sáng ngời chính nghĩa của nhân dân VN trong thế kỷ XX”, Đại tướng Lê Đức Anh kết luận.

Thuận An (ghi)

VN-Campuchia đưa quan hệ hợp tác toàn diện lên tầm cao mới



Tại cuộc hội đàm chiều 25/11, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia, Chủ tịch Thượng viện Campuchia Samdec Chia Sim khẳng định chuyến thăm chính thức lần này của Chủ tịch Samdec Chia Sim lần này là sự kiện quan trọng thể hiện sự đoàn kết, gắn bó, tin cậy giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước.

Ảnh: VOV
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Chủ tịch Chia Sim trao đổi ý kiến về những vấn đề nhằm thúc đẩy quan hệ giữa hai Đảng, hai nước.

Hai nhà lãnh đạo đồng tình với việc duy trì thường xuyên, mở rộng trao đổi đoàn giữa hai Đảng, hai Nhà nước, hai Quốc hội, các tổ chức đoàn thể; đẩy mạnh tiếp xúc giữa các tỉnh giáp biên, các tỉnh kết nghĩa, cũng như duy trì cơ chế hợp tác nhằm tăng cường sự hiểu biết giữa hai nước láng giềng anh em.

Hai bên bày tỏ mong muốn hai nước tiếp tục phối hợp triển khai thực hiện có hiệu quả các thỏa thuận đã ký, đưa quan hệ hợp tác toàn diện, trong đó có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư lên tầm cao mới.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu của Đảng Nhân dân Campuchia và nhân dân Campuchia đã và đang dành cho Việt Nam; cảm ơn Chính phủ Hoàng gia Campuchia tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt Nam ở Campuchia được làm ăn, sinh sống thuận lợi; giúp đỡ Việt Nam quy tập hài cốt các chiến sĩ tình nguyện hy sinh ở Campuchia.

Chủ tịch Chia Sim thay mặt Đảng Nhân dân Campuchia và nhân dân Campuchia bày tỏ sự biết ơn sâu sắc với Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam đã ủng hộ, giúp đỡ chí tình nhân dân Campuchia trong những thời điểm khó khăn, cứu Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng và xây dựng đất nước hoà bình, phồn vinh.

Chủ tịch Chia Sim khẳng định, Đảng Nhân dân Campuchia, Quốc hội, Thượng viện, Chính phủ và nhân dân Campuchia mãi mãi kính trọng và biết ơn sự hy sinh to lớn của các bà mẹ Việt Nam và các chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh vì sự hồi sinh và phát triển của đất nước Campuchia. Chủ tịch cho biết hiện Campuchia đang chuẩn bị kỷ niệm 30 năm ngày thoát khỏi họa diệt chủng Pol Pot vào đầu năm tới.

Nhân dịp này, Chủ tịch Chia Sim trân trọng mời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh sang thăm hữu nghị chính thức Campuchia vào thời gian thích hợp. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cám ơn và vui vẻ nhận lời mời, thời gian sẽ thu xếp qua đường ngoại giao.

Tối 25/11 tại Văn phòng Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh mở tiệc chiêu đãi trọng thể Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia và đoàn đại biểu Campuchia.

Theo VOV

Bảo vệ sự hồi sinh của Campuchia

"Tôi xin bày tỏ cảm ơn sâu sắc đến quân đội tình nguyện Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh cao cả tại đất nước Campuchia, sẵn sàng chiến đấu anh dũng, hy sinh xương máu của mình để giải phóng nhân dân và đất nước anh dũng, hy sinh xương máu của mình để giải phóng nhân dân và đất nước Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng và giúp đỡ bảo vệ sự hồi sinh của nhân dân Campuchia", Đại sứ Campuchia tại Việt Nam Van Phon nói.

VietNamNet lược ghi bài phát biểu của Đại sứ Campuchia tại Việt Nam Van Phon tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng Campuchia khỏi ách thống trị của chế độ diệt chủng Pol Pot, chiều 6/1 tại Hà Nội.

Ghi sâu trong tim lòng biết ơn

Lịch sử đất nước chúng tôi hàng trăm năm rồi xảy ra các cuộc chiến tranh xâm chiếm không ngừng, đất nước bị phân chia ra thành nhiều vùng tự trị, nhiều thành quả cũng bị tàn phá hết.

Campuchia đã hồi sinh. Ảnh: Vân Anh

Thực tế vào những năm cuối, đất nước bị rơi vào thảm cảnh chiến tranh nội bộ và bị tàn phá nặng nề xuống còn mức không, dưới chế độ Campuchia dân chủ diệt chủng Khmer Đỏ. Nhân dân mọi tầng với hơn 3 triệu người bị giết chết một cách dã man, vô nhân tính chưa từng xảy ra trong lịch sử loài người. Cơ sở hạ tầng và kinh tế xã hội bị tàn phá hoàn toàn.

TT Hun Sen: “Không có sự giúp đỡ của VN, chúng tôi sẽ chết"!

Trong cuốn sách Hun Sen - nhân vật xuất chúng của Campuchia mới xuất bản, Thủ tướng Hun Sen thừa nhận: “Nếu Pol Pot không tấn công VN, tôi nghĩ chúng tôi sẽ không có được sự ủng hộ của VN để lật đổ chế độ Khơme Đỏ. Pol Pot đã phạm sai lầm là giết người dân của mình (kể cả những người gốc Việt) và phát động các cuộc tấn công vào biên giới VN”.

Ông cũng kể VN ban đầu đã từ chối các đề nghị trợ giúp về quân sự do không muốn can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia.

Thật may mắn, vào ngày 7 tháng Giêng năm 1979, đất nước và nhân dân đã được cứu sống do có sự giúp đỡ của Mặt trận cứu quốc Campuchia và quân tình nguyện Việt Nam.

Nếu không có ngày 7 tháng Giêng thì chế độ diệt chủng Khmer Đỏ đã tàn phá, hủy hoại không còn gì và tất cả chúng tôi, nhân dân, tổ quốc không có được may mắn như ngày hôm nay.

Ngày 7 tháng Giêng đã mang lại sự sống lần thứ hai cho đất nước và nhân dân Campuchia và tất cả chúng tôi luôn ghi nhớ, biết ơn điều đó. Toàn thể nhân dân Campuchia đã ghi sâu vào trong tim và trong tâm trí của mình về sự biết ơn to lớn ngày 7 tháng Giêng. Mỗi người dân phải có nghĩa vụ đền ơn đất nước và nhân dân để xứng đáng với cuộc đời mình....

Thắng lợi ngày 7 tháng Giêng năm 1979 này không thể không nhắc đến sự giúp đỡ kịp thời, ủng hộ về mọi mặt cùng với sự hy sinh xương máu, cuộc đời của quân tình nguyện, nhân dân Việt Nam cứu giúp cuộc sống của nhân dân và đất nước Campuchia cho đến khi có sức mạnh đứng dậy chống lại bọn Khmer Đỏ không để chúng quay lại lãnh thổ Campuchia một lần nữa.

Ngoài ra còn có các chuyên gia Việt Nam đã giúp đỡ, hướng dẫn kinh nghiệm trong việc quản lý, lãnh đạo đất nước trong mọi lĩnh vực. Cho đến nay, phía bạn Việt Nam vẫn tiếp tục giúp đỡ, ủng hộ về mọi mặt, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục. Hàng năm phía Việt Nam đã dành nhiều suất học bổng cho sinh viên Campuchia sang học tập tại nhiều trường đại học của Việt Nam.

Thúc đẩy trao đổi thương mại, đầu tư, kinh doanh với Campuchia và trao đổi các đoàn lãnh đạo, trao đổi kinh nghiệm, ký kết nhiều hiệp định cùng với nhau... Tất cả điều này đã cho thấy rõ một điều rằng phía Việt Nam không có mục đích gì ngoài sự nghiệp cùng Campuchia củng cố và phát triển tình hữu nghị truyền thống đã từng đồng cam, cộng khổ, là láng giềng, là anh em cùng chung vui buồn từ thời xa xưa như ngài Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh đã từng nói "không có người ngoài cũng không sao nhưng không thể thiếu những người láng giềng".

Hành động có ý nghĩa vô giá này với tình nghĩa hai nước là anh em đã cùng vui buồn có nhau sẽ luôn được ghi nhớ trong tất cả những người dân Campuchia đến tiếp đời con cháu.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn BBC tháng 6/2006, cựu Đại sứ Hoa Kỳ Pete Peterson nói rằng thế giới phải cảm ơn Việt Nam vì họ đã lật đổ Pol Pot ở Campuchia.

Ông Peterson gọi đây là “tấn thảm kịch đáng ra phải được giải quyết sớm hơn và mạnh mẽ hơn để cứu mạng hàng triệu người”. Theo cựu Đại sứ Hoa Kỳ, lịch sử cần phải có sự nhìn nhận đúng đắn về vai trò của Việt Nam.

Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã giúp đỡ, ủng hộ nhiệt tình và to lớn đến nhân dân Campuchia trong sự nghiệp giải phóng đất nước thoát khỏi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ và hồi sinh đất nước Campuchia.

Tôi xin bày tỏ cảm ơn sâu sắc đến quân đội tình nguyện Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh cao cả tại đất nước Campuchia, sẵn sàng chiến đấu anh dũng, hy sinh xương máu của mình để giải phóng nhân dân và đất nước anh dũng, hy sinh xương máu của mình để giải phóng nhân dân và đất nước Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng và giúp đỡ bảo vệ sự hồi sinh của nhân dân Campuchia.

Tôi xin chân thành cảm ơn các gia đình Việt Nam đã hy sinh vợ chồng, con cháu, những người thân yêu của mình để chiến đấu tại Campuchia. Tôi xin cảm ơn sâu sắc đến đất nước Việt Nam đã giúp đỡ, ủng hộ về mọi mặt trong việc hợp tác song phương trên mọi lĩnh vực, vì lợi ích của đất nước và nhân dân Campuchia.

"Ai cũng phải thừa nhận là việc VN vào Campuchia đã đem lại kết quả rõ ràng…Hành động đó đã được nhân dân Campuchia ở khắp nơi chào đón như là sự giải phóng cho họ. Ai cũng thấy rõ ràng là sở dĩ từ trước đến nay Khmer Đỏ không thể trở về được Phnom Penh, chủ yếu vì sự có mặt của Việt Nam".

Thời báo Canberra (Australia) số ra ngày 19/3/1989.

  • Xuân Linh ghi


Tiến sĩ Van Phan, Đại sứ Cam-pu-chia tại Việt Nam: Sự giúp đỡ của Việt Nam là vô giá



Ngày 7-1-1979 là một mốc quan trọng trong lịch sử Cam-pu-chia. Với việc chế độ diệt chủng Pôn Pốt bị lật đổ, đất nước chùa Tháp được hồi sinh. Nhân dịp kỷ niệm 30 năm sự kiện trọng đại này của nhân dân Cam-pu-chia, Tiến sĩ Van Phan, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Vương quốc Cam-pu-chia tại Việt Nam, đã trả lời phỏng vấn của Báo Quân đội nhân dân.

- Xin Đại sứ cho biết ý nghĩa của thắng lợi ngày 7-1-1979?

- Để thấy thắng lợi này có ý nghĩa to lớn ra sao, trước tiên tôi xin kể lại bi kịch của người dân Cam-pu-chia dưới chế độ Cam-pu-chia dân chủ do Pôn Pốt và Khiêu Xăm Phon cầm đầu trong thời gian 3 năm 8 tháng 20 ngày.

Sau khi lên nắm quyền, Khơ-me đỏ đã không ngần ngại đuổi nhân dân ra khỏi thành phố, cho sống tại các vùng nông thôn để bọn chúng dễ dàng tàn phá tất cả những gì thuộc về xã hội trước và xây dựng lại một "xã hội mới" với những "con người mới" nào đó theo sự tưởng tượng điên rồ của bọn chúng. Trường học, chợ búa, tiền bạc, chùa chiền bị phá hủy. Quyền tự do cá nhân bị tước bỏ. Bọn chúng để mặc cho nhân dân đói mà chết. Chúng bắt nhân dân làm việc cả sáng lẫn tối không nghỉ, sống cuộc sống như loài vật. Đâu đâu cũng chỉ thấy sự chết chóc và nỗi ám ảnh sợ hãi.

Nhân dân hằng ngày chỉ biết cầu nguyện mong có người đến cứu kịp thời. Ai cũng được, miễn là họ được sống thì nhân dân sẽ biết ơn cả đời. Từ năm này qua năm kia, sự chờ đợi như tuyệt vọng, người chết ngày càng nhiều. Thật may mắn, những người dân đã được quân đội Mặt trận đoàn kết cứu quốc Cam-pu-chia và Bộ đội tình nguyện Việt Nam cứu giúp kịp thời vào ngày 7-1-1979. Đây chính là thắng lợi mà nhân dân không gì có thể vui mừng hơn, như được sống lại lần nữa. Nếu như sự giúp đỡ này muộn thêm một chút nữa thôi thì cuộc sống của những người dân đã không còn nữa và đất nước có khi cũng bị hoàn toàn tan rã. Tất cả những điều đó cho thấy ngày 7-1-1979 chính là ngày hồi sinh của nhân dân và đất nước Cam-pu-chia.

- Đại sứ đánh giá thế nào về sự đóng góp của quân đội tình nguyện Việt Nam trong chiến thắng của nhân dân Cam-pu-chia?

- Sự đóng góp của bộ đội tình nguyện Việt Nam trong thắng lợi của nhân dân Cam-pu-chia là công lao rất to lớn mà đất nước và nhân dân Cam-pu-chia chúng tôi luôn ghi nhớ và kính trọng mãi mãi. Đây là tấm lòng chân thành hiếm có với tình nghĩa là anh em, láng giềng gần nhau và truyền thống tôn trọng quý mến, giúp đỡ lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh.

- Xin Đại sứ cho biết về những thành tựu xây dựng đất nước của nhân dân Cam-pu-chia trong 30 năm qua?

- Bắt đầu cuộc sống từ hai bàn tay trắng, song đất nước Cam-pu-chia dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cam-pu-chia do Xăm-đéc Chia Xim, Xăm-đéc Hêng Xom-rin, đặc biệt dưới sự lãnh đạo tài tình của Xăm-đéc Hun Xen, đã thoát khỏi đói kém, xóa bỏ toàn bộ chế độ và hệ thống Khơ-me đỏ, hàn gắn dân tộc, hòa hợp quốc gia mang lại hòa bình trọn vẹn, thống nhất. Việc xây dựng lại và phát triển về cơ sở hạ tầng xã hội-kinh tế như trường học, bệnh viện, cầu đường, nhà máy, chợ búa, ngân hàng… đã đạt được nhiều thành tựu. Cam-pu-chia cũng chủ động hội nhập với khu vực và thế giới. Các tổ chức quốc tế song phương và đa phương đều tin tưởng trong sự lãnh đạo đất nước Cam-pu-chia. Những thành tựu đáng tự hào trên với sự phát triển ngày càng cao làm Cam-pu-chia vẻ vang trên trường quốc tế, bắt kịp các nước khác trên thế giới.

- Đại sứ đánh giá như thế nào về sự hợp tác giữa hai nước Việt Nam - Cam-pu-chia hiện nay?

- Đất nước Cam-pu-chia phát triển được như hiện nay là do có nhiều bạn bè, đối tác giúp đỡ hợp tác phát triển. Và trong đó, không thể không nhắc đến sự hợp tác to lớn với Việt Nam.

Việt Nam đã hy sinh xương máu của hàng nghìn người để giúp đỡ nhân dân và đất nước Cam-pu-chia lật đổ chế độ diệt chủng Khơ-me đỏ. Việt Nam còn tiếp tục giúp đỡ nhân dân Cam-pu-chia cho đến khi có khả năng, sức mạnh đứng dậy chiến đấu chống lại quân địch không để chế độ diệt chủng Khơ-me đỏ có cơ hội quay trở lại. Hơn nữa, các chuyên gia Việt Nam sang giúp đỡ, hướng dẫn các kinh nghiệm trong việc quản lý, lãnh đạo đất nước trên mọi lĩnh vực. Cho đến nay, Việt Nam vẫn tiếp tục giúp đỡ, tài trợ về mọi mặt, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục. Hằng năm, Việt Nam đã cấp học bổng cho các học sinh, sinh viên Cam-pu-chia, đào tạo nhiều chuyên ngành để trở thành nguồn nhân lực phát triển đất nước.

Việt Nam và Cam-pu-chia cũng đã xây dựng đường biên giới chung trở thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị và hợp tác. Trao đổi thương mại, đầu tư có trị giá hàng tỷ USD. Các cuộc trao đổi phái đoàn, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau diễn ra thường xuyên. Tất cả điều này đã cho thấy rõ rằng, Việt Nam không có mục đích gì khác ngoài sự nghiệp cùng Cam-pu-chia củng cố và phát triển tình đoàn kết truyền thống, cùng chung vui buồn và bình đẳng trong khu vực. Đây chính là hành động có ý nghĩa to lớn, vô giá của Việt Nam đối với nhân dân và đất nước Cam-pu-chia mà nhân dân Cam-pu-chia luôn ghi nhớ công ơn mãi mãi.

BẢO TRUNG (thực hiện)

Kỷ niệm 30 năm Ngày Cam-pu-chia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt (7/1/1979 - 7/1/2009): Sáng mãi tình hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia



Khách du lịch tham quan thắng cảnh của đất nước Cam-pu-chia. Ảnh: Phương Liên

Đúng 12 giờ 30 phút ngày 7-1-1979, thủ đô Phnôm Pênh của Cam-pu-chia hoàn toàn giải phóng. Sự kiện trọng đại này đã đi vào lịch sử tròn 30 năm. Song với nhân dân Cam-pu-chia anh em cũng như những tình nguyện quân Việt Nam, ký ức về một thời hào hùng nay vẫn còn nguyên vẹn. Trong lịch sử tình hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia, ngày 7-1-1979 là một trong những ngày đáng nhớ nhất.

Bước ngoặt lịch sử trọng đại với dân tộc Cam-pu-chia

Nhớ lại những gì diễn ra cách đây 30 năm, nguyên Chủ nhiệm UB Đối ngoại của Quốc hội, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia Vũ Mão bồi hồi kể lại: "Trong thời khắc lịch sử trọng đại mang nhiều ý nghĩa đó, với tôi ngày 7-1-1979 không bao giờ quên được. Chiến thắng vĩ đại đó đã mở ra bước ngoặt lịch sử với dân tộc Cam-pu-chia - ngày nhân dân Cam-pu-chia được hồi sinh để mở đầu cho công cuộc xây dựng lại đất nước".

Là người từng nhiều năm gắn bó với nhân dân Cam-pu-chia, hơn 25 năm làm Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia, ông Vũ Mão cho rằng, ngày 7-1-1979 không chỉ có ý nghĩa lịch sử trọng đại với nhân dân Cam-pu-chia, mà còn là ngày quan hệ đoàn kết hữu nghị truyền thống giữa hai dân tộc anh em Việt Nam - Cam-pu-chia được khôi phục, củng cố và phát triển.

Ông cho biết, trong chuyến thăm Việt Nam từ ngày 4 đến 5-11-2008, Thủ tướng Hun Xen đã phát biểu với đoàn đại biểu Hội Hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia rằng: "Không có ngày 7-1-1979, không có đất nước Cam-pu-chia ngày nay. Ngày 7-1-1979 là ngày chiến thắng chung, ngày vui chung của hai dân tộc Cam-pu-chia - Việt Nam".

- Tối 6-1, tại Hà Nội, Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam, Hội Hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia phối hợp với Đại sứ quán Cam-pu-chia tại Việt Nam đã tổ chức buổi

gặp mặt thân mật nhân kỷ niệm 30 năm ngày Cam-pu-chia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt (7/1/1979 - 7/1/2009).

Sự giúp đỡ của chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam không thể đong đếm được

Với ông Nguyễn Văn Đệ, Phó ban thường trực - Ban liên lạc cựu chuyên gia Việt Nam giúp Cam-pu-chia, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia, hơn 3 năm (1979-1981) làm chuyên gia tình nguyện tại Cam-pu-chia là khoảng thời gian đáng nhớ. Đến Cam-pu-chia vào tháng 6-1979, với tư cách là Trưởng đoàn chuyên gia thanh, thiếu niên Việt Nam giúp Cam-pu-chia, ông vẫn nhớ như in: "Lần mở lớp đầu tiên tại Phnôm Pênh, học sinh đến quá đông, thiếu giường ngủ, thức ăn, bát đũa... Bạn cử cán bộ đến yêu cầu chuyên gia giúp, chúng tôi phải tự thu xếp chỗ nằm để nhường giường cho bạn; rồi chặt tre, vót đũa... làm tất cả mọi việc giúp bạn giải quyết khó khăn, ổn định tư tưởng cho học sinh".

Sau khi quân tình nguyện Việt Nam giúp nhân dân Cam-pu-chia đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt ngày 7-1-1979, nhân dân Cam-pu-chia tiếp tục lâm vào thảm cảnh "diệt chủng mới", đó là đói rét, bệnh tật, không có cơm ăn, áo mặc, thuốc men... Đảng và Chính phủ Việt Nam đã cử hàng vạn chuyên gia Việt Nam từ các cấp, các ngành nhanh chóng lên đường sang giúp nhân dân Cam-pu-chia xây dựng lại đất nước, từ hệ thống tổ chức chính trị, xã hội đến lực lượng vũ trang, tổ chức chính quyền...

Những đóng góp của các chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam tại Cam-pu-chia trước ngày 7-1-1979 cũng như trong suốt 10 năm trời (từ 1979 đến 1989) thật khó đong đếm. Nhờ đó, đất nước Cam-pu-chia ổn định chính trị, giữ vững an ninh tổ quốc, an toàn xã hội.

Khoảng thời gian 10 năm đó là giai đoạn lịch sử đặc biệt, thể hiện tinh thần quốc tế trong sáng cao đẹp của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam. Đó là trang sử vàng mãi ghi sâu trong ký ức của hai dân tộc Việt Nam - Cam-pu-chia anh em. Sau 10 năm giúp bạn, đến ngày 27-9-1989 toàn bộ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã rút khỏi Cam-pu-chia về nước khi đất nước Cam-pu-chia đang thực sự được hồi sinh.

Đất nước Cam-pu-chia đang thay da đổi thịt từng ngày

Sau ngày 7-1-1979, nhân dân Cam-pu-chia đạt được những thành tựu to lớn như lời khẳng định của Đại sứ Cam-pu-chia tại Việt Nam Van Phan: "Cuộc sống nơi đây đang thay da đổi thịt từng ngày". Tăng trưởng kinh tế phát triển nhanh chóng, với GDP bình quân mấy năm qua đều đạt gần 10%. Từ một nước đói ăn, năm 2007 vừa qua, Cam-pu-chia đã trở thành nước xuất khẩu gạo; dự trữ ngoại tệ lên tới 1,7 tỷ USD.

Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, quan hệ Việt Nam - Cam-pu-chia vẫn không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp. Tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày Cam-pu-chia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt (7-1), vừa diễn ra tối qua (6-1-2009), tại Hà Nội, Đại sứ Van Phan xúc động khẳng định: "Sự đóng góp quý báu của quân tình nguyện Việt Nam vào thắng lợi của nhân dân Cam-pu-chia là công lao rất to lớn mà đất nước và nhân dân Cam-pu-chia luôn ghi nhớ và kính trọng mãi mãi. Đây là tấm lòng chân thành hiếm có, với tình nghĩa anh em láng giềng Việt Nam - Cam-pu-chia, những người anh em luôn giúp đỡ lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh".

Đình Hiệp

Ngày 7-1-1979, một ngày đẹp nhất về tình hữu nghị Việt Nam - Cam-pu-chia



ND- Ngày 7-1-1979, cách đây 30 năm, lá cờ đỏ năm tháp vàng của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia đã phấp phới bay ở Thủ đô Phnôm Pênh. Ðó là ngày sụp đổ của chế độ diệt chủng Pôn Pốt, mở đầu cho cuộc hồi sinh dân tộc ở Cam-pu-chia.

Nguy cơ bị diệt chủng ở Cam-pu-chia là hậu quả của chế độ thống trị độc tài tàn bạo của một nhóm trí thức, đại biểu là Pôn Pốt. Pôn Pốt cho rằng, Hít-le với sự thống trị độc tài, đã tạo được sức mạnh to lớn, uy hiếp nhiều nước châu Âu, nhưng bị thất bại vì theo chủ nghĩa tư bản. Còn y độc tài để tạo ra sức mạnh, để xây dựng chủ nghĩa cộng sản, nên sẽ thành công.

Ðể thực hiện sự thống trị độc tài, y đã xây dựng cái gọi là "Ðảng cộng sản" với bí danh là Ăng-ka, nhiều người còn gọi là Khmer Ðỏ. Ăng-ka được tổ chức theo kiểu quân đội, đảng viên đều cầm súng. Pôn Pốt là Tổng bí thư kiêm Tổng tư lệnh.

Ngày 17-4-1975, quân Ăng-ka tiến vào Thủ đô Phnôm Pênh, bốn ngày sau khi Ðại sứ Mỹ ở Cam-pu-chia là G.Gân-thơ-đin cùng với quyền Tổng thống Cam-pu-chia là tướng Sau Khăm Khôi đã dùng máy bay lên thẳng chạy ra nước ngoài. Chúng bỏ chạy vào lúc chính phủ Mỹ đã tỏ ra bất lực trước sức tiến công của quân dân ba nước Ðông Dương, đặc biệt là sau chiến dịch Tây Nguyên, quân đội Việt Nam đại thắng... Thế nhưng, việc chiếm Thủ đô Phnôm Pênh, được Pôn Pốt quy công cho lực lượng Ăng-ka và tự cho mình là vị lãnh tụ anh minh tài giỏi. Từ đó, y tự cho mình có thể xây dựng ở Cam-pu-chia một xã hội cộng sản rất đặc biệt, trên thế giới chưa từng có. Theo y, xã hội cộng sản đặc biệt ở Cam-pu-chia phải được xây dựng từ phát triển nông nghiệp bằng cách đuổi hết dân các đô thị về nông thôn, buộc toàn dân, kể cả sư sãi, trí thức đều phải tham gia đội quân lao động tập thể trong các công xã do Ăng-ka chỉ huy bằng mệnh lệnh quân sự. Ai chống đối sẽ bị giết. Ðể xây dựng xã hội mới, phải "phá sạch cơ sở địch cài lại", chúng bắt buộc dân phải đổi vùng cư trú. Ðể làm cho nước Cam-pu-chia phải là của người Khmer thuần túy, chúng cho Ăng-ka xua đuổi, giết hại những ai không phải người Khmer. Càng xuống cấp dưới, sai lầm càng mở rộng, người bị Ăng-ka giết ngày càng nhiều, hậu quả đi đến nguy cơ bị diệt chủng.

Ðối với Việt Nam, ngay sau ngày 17-4-1975, qua đài phát thanh, chúng lớn tiếng vu khống Việt Nam âm mưu lập "Liên bang Ðông Dương" để thôn tính Cam-pu-chia. Từ đó, ngoài việc xua đuổi và giết hại Việt kiều, ngày 10-5-1975, Pôn Pốt đã đem quân đổ bộ lên đảo Thổ Chu giết và bắt đi hàng trăm dân thường ta. Chúng còn tăng cường tiến công khiêu khích liên tục. Ngày 30-4-1977, Pôn Pốt đã huy động 13 sư đoàn quân chủ lực để đánh phá nước ta theo dọc biên giới. Ðánh vào nơi nào, chúng giết sạch, phá sạch, cướp sạch. Cuối năm 1978, chúng huy động 19 trong tổng số 23 sư đoàn chủ lực đánh vào vùng Bến Sỏi, mở đầu việc đánh chiếm tỉnh Tây Ninh hòng hỗ trợ cho lực lượng phản cách mạng nổi dậy lật đổ chính quyền mới ở TP Hồ Chí Minh.

Nhưng chúng đã tính lầm. Ba sư đoàn tinh nhuệ của chúng đã bị quân ta tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn. Bọn phản động hí hửng ngóc đầu dậy ở TP Hồ Chí Minh đã bị tóm gọn.

Những tháng cuối năm 1978, hàng nghìn người dân và cán bộ, quân lính Khmer Ðỏ rời khỏi hàng ngũ quân đội Pôn Pốt, chạy qua Việt Nam lánh nạn. Họ cho chúng ta biết thảm cảnh của nhân dân Cam-pu-chia dưới ách thống trị của Ăng-ka.

Ngày 2-12-1978, qua Thông tấn xã Cam-pu-chia và Ðài Phát thanh Tiếng nói nhân dân Cam-pu-chia, chúng ta biết được Mặt trận dân tộc cứu nước Cam-pu-chia đã được thành lập, đã công bố chương trình 10 điểm, trong đó có lời kêu cứu thống thiết. Trên tinh thần giúp bạn, ngày 25-12-1978 chúng ta đã cùng bạn mở đầu một cuộc phản công. Quân ta tiến đến đâu, nhân dân Cam-pu-chia vui mừng tiếp sức đến đó. Chỉ qua 12 ngày đêm, đến ngày 7-1-1979, quân ta tiến vào Phnôm Pênh. Toàn bộ lực lượng Ăng-ka bỏ chạy, bộ máy thống trị diệt chủng của Pôn Pốt bị sụp đổ, cờ của Mặt trận dân tộc cứu nước Cam-pu-chia phấp phới tung bay khắp nơi ở Thủ đô.

Ðể bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được và xây dựng lại đất nước, ngoài quân tình nguyện, bạn yêu cầu Việt Nam cử chuyên gia qua giúp. Qua 10 năm giúp bạn, cứ mỗi bước đất nước bạn hồi sinh là một đợt quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam ta rút về nước.

Ðến ngày 27-9-1989, toàn bộ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã rút khỏi Cam-pu-chia vào lúc nhân dân Cam-pu-chia chẳng những thoát khỏi hiểm họa bị diệt chủng, mà đất nước Cam-pu-chia thật sự đã được hồi sinh.

Mười năm, kể từ năm 1979 đến 1989, chúng ta tự hào về quân tình nguyện và chuyên gia ta đã sẵn sàng gánh vác khi có nghĩa vụ quốc tế cần phải gánh vác, dù phải chịu nhiều khó khăn gian khổ, hy sinh. Thuận lợi nhường cho bạn, khó khăn nguy hiểm giành về mình, cùng với bạn xây dựng từ không đến có, với tinh thần quốc tế cao cả, với tình nghĩa anh em trong sáng thủy chung.

Ngày 7-1-1989, trong buổi gặp gỡ chuyên gia Việt Nam chuẩn bị về nước, Chủ tịch nước Cam-pu-chia Heng Xom Rin nói: "Tổ quốc và nhân dân Cam-pu-chia đã khắc sâu vào trái tim mình, lịch sử đất nước Cam-pu-chia sẽ mãi mãi khắc bằng chữ vàng công ơn to lớn của các đồng chí chuyên gia, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi nghĩa vụ quốc tế cao cả trên đất nước Cam-pu-chia".

TRONG lịch sử về mối quan hệ hữu nghị anh em giữa Việt Nam và Cam-pu-chia, ngày 7-1-1979, ngày mở đầu cho thắng lợi to lớn qua 10 năm, vừa giúp bạn vừa tự cứu mình, rõ ràng là một ngày đẹp nhất.

TRẦN TRỌNG TÂN