Thứ Hai, 25 tháng 1, 2010

Khởi động ngày hội VHTTDL Khmer Nam Bộ 2010

(VH)- Ngày hội VHTTDL vùng đồng bào Khmer Nam Bộ lần 5-2010 do UBND tỉnh An Giang đăng cai tổ chức vào tháng 4.2010 tới tại huyện Tịnh Biên.

Với chủ đề “Đặc trưng VHTTDL vùng đồng bào Khmer Nam Bộ-hành trang hội nhập và phát triển”, ngày hội năm nay quy tụ các đoàn văn hoá nghệ thuật, thể thao và du lịch của các tỉnh, thành khu vực Nam Bộ tham dự với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng như: hội chợ triển lãm thành tựu VHTTDL, liên hoan nghệ thuật quần chúng, trình diễn trang phục truyền thống, lễ hội dân gian, giới thiệu văn hoá ẩm thực và giao lưu văn hoá...

Đây là hoạt động VHTTDL mang tính truyền thống dành cho đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ do Bộ VHTTDL phối hợp với các Bộ, ngành TƯ và UBND các tỉnh, thành có đông đồng bào dân tộc Khmer tổ chức định kỳ hai năm một lần, luân phiên tại các địa phương trong khu vực. (Theo Báo văn hóa )

Thanh Triều

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2010

Nơi đào luyện những nhân tài Phật học

Việc xây dựng và phát triển các Học viện Phật giáo ở Việt Nam không chỉ đơn thuần để phục vụ nhu cầu tu học đang ngày càng tăng nhanh của đông đảo chúng tăng ni sinh trong cả nước mà còn là nơi để Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) đào luyện và tuyển chọn ra những nhân tài Phật học có đủ đức, đủ tài gánh vác được công việc của Phật sự và thế gian trong thời đại mới.

Từ "Tuyển Phật trường” phương Bắc

Có người ví Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội (HVPG-HN) là một “Tuyển Phật trường”, tức là ngôi trường đào tạo và tuyển chọn nên những người đảm trách Phật sự trong tương lai. Toạ lạc uy nghiêm dưới tán rừng thông xanh ngút ngàn của ngọn Sóc Sơn (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội), Học viện được thừa hưởng một không gian trong lành thoáng đãng, xa nơi ồn ào của phố thị nên rất thích hợp cho môi trường tu trì và rèn luyện của tăng ni.

Theo Đại đức Thích Minh Tiến, Trợ lí Viện trưởng kiêm Thư kí Hội đồng điều hành Học viện: “Học viện là một ngôi trường dành riêng cho giới tăng ni cho nên việc giáo dục tăng ni không chỉ đơn thuần là việc học mà còn giáo dục cả nhân cách làm người xuất gia. Vì vậy, việc đào tạo ở HVPG-HN vừa nghiêm khắc nhưng cũng phải vừa khoan dung, nhân hòa”.

Tại đây, mọi thứ dường như đều được đặt vào khuôn khổ của giới luật. Từ chuyện giao tiếp, ăn ở, sinh hoạt, học hành cho đến tu tập… của tăng ni sinh nhất nhất đều được Ban quản chúng của Nhà trường đốc thúc và để ý đến. Cuộc sống tu học ở đây bốn mùa nắng cũng như mưa. Sáng 4 giờ đã thức dậy tụng kinh niệm Phật, ngày ba bữa rau dưa đạm bạc, trưa và chiều lên giảng đường ngồi trang nghiêm nghe thầy giảng đạo, chiều vãn lại lên chùa lễ Phật, tối về tăng xá tiếp tục mở sách ôn bài… Không những thế, mỗi ngày các tăng sinh còn phải học và tự răn 250 điều giới luật, còn ni sinh là 348 điều để sửa mình. Giới luật nghiêm minh nhưng xem ra ai nấy đều tự nguyện bảo ban nhau chấp hành tốt môn quy.

Lại nói đến chuyện học ở “Tuyển Phật trường”, ngoài đời học một, ở đây các tăng ni sinh phải học mười. Một học kì các sinh viên ở ngoài đời chỉ học từ 6 đến 9 môn còn học viên của Học viện phải học từ 17 đến 19 môn. Ngoài những môn nội điển thuộc về giáo lí nhà Phật có đến thiên kinh vạn quyển, các học viên còn phải học thêm cả những môn ngoại điển, tức là những môn học của người đời chẳng mấy khi liên quan đến chuyện giáo lí như kinh tế học, xã hội học, triết học, logic học, ngoại ngữ, vi tính… cho nên đã khó càng khó thêm.

Tuy nhiên, tiếng là học ở trường tu nhưng các học viên bây giờ hầu như ai cũng đã biết cập nhật với những tiện nghi của thời hiện đại, cũng máy tính xách tay, cũng đài, cũng đĩa… Chính vì vậy việc học hành và tham khảo cũng nhờ đó mà phát triển hơn lên. Bên cạnh đó, ngoài giờ học chính khóa, các học viên còn thành lập được Câu lạc bộ (CLB) thư pháp, CLB văn hóa văn nghệ và CLB võ thuật giúp cho họ có thêm được sân chơi bổ ích trong việc tu dưỡng thêm về đạo tâm và rèn luyện về thể lực cũng như trí lực.

Có thể nói, HVPG-HN xứng đáng là một “Tuyển Phật trường”, nơi đào luyện nên những nhân tài Phật học có đủ đức tài gánh vác được trọng trách của Phật sự và xã hội trong tương lai.


Giờ học Hán cổ của lớp tăng I khóa V do GS. Nguyễn Tá Nhí (Viện Hán Nôm) giảng dạy.


Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tới dự
Đại lễ Phật Đản tại HVPGVN.


Những hoạt động như vui chơi kéo co đem
lại cho học viên niềm vui, phấn khởi
sau những giờ tu học.


Luyện thư pháp đem lại phấn khởi
sau những giờ tu học.


Tham gia lao động tăng gia sản xuất
sau những giờ tu học.


Phút giải trí sau những giờ tu học.

Đến trường Phật học phương Nam

Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh (HVPG-HCM) cũng là một trung tâm nghiên cứu và đào tạo Phật học lớn của cả nước. Theo Hòa thượng Tiến sĩ (TS) Thích Minh Châu, Viện trưởng HVPG-HCM cho biết: “Nội dung và chương trình đào tạo Cử nhân Phật học ở đây không đào tạo việc tu hành mà đào tạo những kiến thức Phật học và văn hóa dân tộc cùng một số ngành học liên quan theo tiêu chuẩn của bậc đại học”.

Với mục tiêu đào tạo như vậy cho nên HVPG-HCM đã xây dựng được một đội ngũ đông đảo các giảng sư có trình độ chuyên môn cao, tốt nghiệp các học viện nổi tiếng ở trong nước và trên thế giới. Hiện tại, Học viện có hơn 60 giảng sư, trong đó có 50 tiến sĩ và gần 10 thạc sĩ, ngoài ra còn có các giáo sư thỉnh giảng đến từ các học viện trong nước và trên thế giới.

Nói đến thành quả của Học viện, TS Thích Tâm Đức, Trưởng Phòng Đào tạo của Học viện cho biết: “Từ năm 1985 tới nay Học viện đã đào tạo được 5 khóa Cử nhân Phật học với hơn nghìn tăng ni sinh đã tốt nghiệp. Hai khóa VI và VII hiện đang được đào tạo với số lượng học viên tăng lên gấp bội. Nếu như khoá I chỉ có 60 học viên thì khóa VII đã có tới 1.017 học viên theo học. Đặc biệt, bằng Cử nhân Phật học của Học viện hiện đã được nhiều nước trên thế giới công nhận. Nhờ đó mà hàng trăm học viên tốt nghiệp của Học viện có thể tiếp tục theo học chương trình đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ tại các trường quốc tế như Đại học Quốc gia Dehli, Đại học Pune (Ấn Độ), Đại học Quốc gia Đài Loan, Đại học Bắc Kinh, Đại học Thượng Hải (Trung Quốc), Đại học Tokyo (Nhật Bản), Đại học Berkeley (Hoa Kỳ)… Và trong tương lai, với năng lực của mình HVPG-HCM cũng sẽ tiến hành tổ chức đào tạo bậc Thạc sĩ và Tiến sĩ Phật học ở trong nước.

Với phương châm “Nghiên cứu Phật học Việt Nam không thể tách rời với với việc nghiên cứu văn hoá Việt Nam”, HVPG-HCM đang ngày càng khẳng định được vai trò và vị thế của mình trong hệ thống giáo dục Phật học tiên tiến của cả nước. Tại đây, những giá trị truyền thống và hiện đại luôn được khơi dậy góp phần xây dựng một nền Phật giáo Việt Nam theo tinh thần nhập thế.


Nữ Tiến sĩ Phật học đầu tiên ở Việt Nam – Thích Nguyên Hương trên giảng đường HVPG-HCM.


Tăng sinh tìm tài liệu tham khảo
tại thư viện HVPG-HCM.


Trong lớp học tại HVPG-HCM.


Học viện Phật giáo Việt Nam
tại Tp. Hồ Chí Minh.

Và Học viện của vùng sông nước Cửu Long

Học viện Phật giáo Nam Tông Khmer (HVPG-NTKM) là ngôi trường có tuổi đời trẻ nhất trong số 3 Học viện Phật giáo của Việt Nam. Đây là ngôi trường Phật học cao cấp của đồng bào Phật tử Khmer vùng sông nước Cửu Long vừa được Chính phủ và GHPGVN đầu tư xây dựng. Mặc dù mới ra đời không lâu (06/02/2006) nhưng HVPG-NTKM có trụ sở tạm thời tại chùa Pôthisomron, quận Ô Môn, Tp. Cần Thơ đã bước đầu chính thức đi vào hoạt động bằng việc chiêu sinh khoá I với gần 70 tăng ni sinh theo học bậc đại học.

Phật giáo Nam Tông Khmer là một hệ phái có lối tu hành riêng và có kho tàng kinh sách cổ được truyền bá bằng một thứ ngôn ngữ riêng, đó là ngôn ngữ Pali. Chính vì vậy, việc tu học của các tăng ni sinh Phật giáo Nam Tông Khmer cũng có nhiều nét khác biệt so với Phật giáo Bắc Tông, đặc biệt là việc học chữ Pali để phục vụ cho việc dịch và đọc kinh sách.

Trước đây, khi chưa có sự ra đời của HVPG-NTKM, các tăng ni sinh của Phật giáo Nam Tông Khmer được Giáo hội tổ chức theo học tại các lớp sơ cấp và trung cấp về Vini và Pali. Ngoài ra, các học viên còn được học thêm một số môn ngoại điển như Anh văn và tin học. Từ những lớp học như thế này, hàng nghìn tăng ni sinh đã được đào tạo một cách cơ bản về ngôn ngữ Pali cũng như kiến thức Phật giáo Nam Tông. Bên cạnh đó, đa số các chùa Nam Tông Khmer cũng đều có tổ chức những lớp dạy tiếng dân tộc cho con em người dân tộc ở độ tuổi từ 8 đến 15 tuổi. Ngoài việc học ở các lớp, hiện nay người dân Khmer vẫn còn giữ được tục gửi các bé trai lên chùa để học tập chừng đôi ba năm để làm quen với việc kinh sách, tu hành. Tuy nhiên, nhìn về tương lai, những lớp học như thế này vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu tu học, nhất là việc tu học bậc cao của tăng ni sinh trong thời đại mới.

Chính vì vậy, việc thành lập HVPG-NTKM là bước phát triển toàn diện mang tính chiến lược của GHPGVN, trong đó có hệ phái Phật giáo Nam Tông Khmer, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo đồng bào Phật tử Khmer tại đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ cũng như cho cả hệ phái Nam Tông khu vực Châu Á.

Do mới thành lập cho nên Nhà trường vẫn đang ở trong giai đoạn xây dựng và kiện toàn trường lớp cũng như các chương trình đào tạo. Hiện nay, Học viện đã có 7 giảng sư có trình độ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ và 2 giảng sư thỉnh giảng từ HVPG-HCM. Dự kiến khoảng 3 năm nữa Học Viện sẽ chính thức hoạt động tại cơ sở mới được quy hoạch trên diện tích 11,3 ha ở quận Ô Môn, Tp. Cần Thơ.

Với những kết quả như vậy, hi vọng trong tương lai không xa, HVPG-NTKM sẽ trở thành một trung tâm đào tạo Phật học lớn của cả nước, góp phần hoàn thiện hệ thống chương trình giáo dục và đào tạo tăng tài của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong thời kì mới.


Ngoài giờ trên lớp của các tăng sinh.


Tăng sinh trong lớp học tại HVPG-NTKM.


Du khách nước ngoài đến thăm, tiếp xúc
với các tăng sinh tại chùa Phothisomron,
nơi đặt HVPG-NTKM.


Tăng sinh trong lớp học tiếng Anh
tại HVPG-NTKM.

Bài: Thịnh Phát, Thanh Hòa - Ảnh: Minh Quốc, Trọng Chính

Ông Sơn Song Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ Đoàn kết, cùng hướng đến xây dựng cuộc sống ấm no

Trong 5 ngày (từ ngày 7 đến 11-12-2009), Đoàn công tác Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ đến làm việc tại tỉnh Hậu Giang về đợt tổ chức tuyên truyền, phản tuyên truyền trong đồng bào dân tộc Khmer. Kết thúc đợt tuyên truyền, ông Sơn Song Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, cho biết:

- Công tác tổ chức trong đợt tuyên truyền và phản tuyên truyền lần này được tỉnh Hậu Giang chuẩn bị rất chu đáo. Được sự quan tâm đặc biệt của Tỉnh ủy, Đoàn nghệ thuật Khmer Ánh Bình Minh biểu diễn 9 đêm (kế hoạch chỉ có 6 đêm) phục vụ cho bà con Khmer. Đặc biệt, Đài PT-TH Hậu Giang còn phát sóng trực tiếp cho bà con dân tộc Khmer trong và ngoài tỉnh thưởng thức văn nghệ. Qua đó cho thấy, công tác tuyên truyền được lan tỏa rộng rãi, thu hút đông đảo nhân dân quan tâm, góp phần quan trọng vào sự thành công của đợt tuyên truyền.

* Thưa ông, những nội dung nào đã được tuyên truyền đến đồng bào dân tộc Khmer ?

- Trong các cuộc họp mặt cán bộ, sư sãi và đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Hậu Giang, chúng tôi đề cập đến nhiều vấn đề như: những chủ trương, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta dành cho đồng bào dân tộc Khmer; lịch sử vùng đất Nam bộ và những cơ sở pháp lý khẳng định vùng đất Nam bộ thuộc chủ quyền của Việt Nam; giáo dục ý thức chấp hành pháp luật; phát huy truyền thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; cảnh giác âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhất là bọn phản động “Khmer Campuchia Krôm”;...

* Trong các nội dung tuyên truyền, ông muốn nhấn mạnh với đồng bào dân tộc Khmer điều gì, thưa ông ?

Đợt tuyên truyền vừa qua, có trên 1.600 cán bộ, sư sãi và đồng bào là người dân tộc Khmer tham dự. Trong đó, cán bộ và đảng viên là 162 đồng chí; học sinh, giáo viên Trường Dân tộc nội trú 255 người; sư sãi 22 vị; Ban Quản trị chùa Phật giáo Nam Tông Khmer 41 vị. Còn lại là đồng bào dân tộc Khmer đang sinh sống trên địa bàn tỉnh.

- Theo quan điểm mà bọn phản động là: “Mỗi đất nước chỉ có một dân tộc” là hoàn toàn sai. Ngày nay, trên thế giới có đến trên 3.000 tộc người sinh sống, nhưng chỉ có khoảng 200 quốc gia. Điển hình như: đất nước Lào có 5,2 triệu người, với 52 dân tộc; Campuchia có 13 triệu người, với 33 dân tộc; Trung Quốc 1,3 tỉ người, với 56 dân tộc; Liên Xô có đến 105 dân tộc;... Còn ở nước Mỹ, hầu hết các dân tộc trên thế giới đều có sinh sống trên đất nước này. Quá trình di dân không những từ vùng này sang vùng khác, mà có thể di dân vượt qua lãnh thổ quốc gia. Điều này cho thấy, mỗi quốc gia có nhiều dân tộc sinh sống.

Nói như thế để thấy rằng, nước Việt Nam chúng ta cũng là một đất nước đa dân tộc, với 54 dân tộc anh em. Một đất nước mà có nhiều dân tộc thì cũng là một điều hiển nhiên. Mỗi một tộc người đều có nguồn gốc lịch sử và những đặc trưng riêng về văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán. Người Khmer sinh ra trên đất nước Việt Nam thì phải xem đất nước Việt Nam là Tổ quốc của mình. Vì vậy, đồng bào dân tộc Khmer phải xem mình chính là chủ nhân của đất nước này. Khi các dân tộc đã tồn tại trên một đất nước, thì tất cả đều có quyền bình đẳng và nghĩa vụ như nhau.

Bên cạnh đó, tôi muốn nhấn mạnh với đồng bào Khmer rằng: Vùng đất Tây Nam bộ là thuộc lãnh thổ của đất nước Việt Nam. Lãnh thổ này không có thế lực nào chia cắt được. Chủ quyền này đã được công nhận và có từ thời xa xưa. Hơn 300 năm trước, người Việt đã cai quản vùng đất này và được các nước khác công nhận.

* Ông đánh giá thế nào về tinh thần đoàn kết dân tộc thời gian qua ?

- Trên thế giới, hầu như đất nước nào cũng có các thế lực thù địch. Việt Nam cũng không ngoại lệ. Bọn phản động “Khmer Campuchia Krôm” dùng mọi âm mưu thủ đoạn để lôi kéo, dụ dỗ đồng bào dân tộc Khmer. Chúng lợi dụng những vấn đề do lịch sử để lại, lợi dụng việc tranh chấp đất đai giữa đồng bào Khmer và đồng bào Kinh để xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Mục đích của chúng là nhằm tách vùng đất Tây Nam bộ khỏi lãnh thổ Việt Nam, chia rẽ các dân tộc. Tuy nhiên, với tinh thần đoàn kết, ý thức cảnh giác cao của đồng bào dân tộc Khmer nói riêng và của các dân tộc anh em khác nói chung, trong thời gian qua thì những âm mưu này không thể nào thực hiện được. Đó cũng là kết quả của sự đoàn kết dân tộc. Từ hàng trăm năm trước, đặc biệt là trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đồng bào dân tộc Khmer đã anh dũng đứng lên sát cánh cùng các dân tộc anh em chiến đấu giải phóng quê hương, đất nước. Ngày nay, tinh thần đoàn kết và truyền thống yêu nước của các dân tộc ngày càng được phát huy.

* Qua chuyến làm việc tại tỉnh Hậu Giang lần này, ông có nhận xét gì về đời sống đồng bào dân tộc Khmer ở đây ?

- Tỉnh Hậu Giang không có đông đồng bào dân tộc Khmer như các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng... Tuy nhiên, nhờ Đảng và Nhà nước làm tốt các chính sách, nên đời sống bà con dân tộc Khmer ngày càng được nâng lên rõ rệt. Trong 5 năm qua, tỉnh Hậu Giang đã đầu tư trên 200 tỉ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà ở, nước sạch, hỗ trợ vốn sản xuất, giải quyết việc làm... cho hộ đồng bào dân tộc trên địa bàn. Đến nay, tỉnh đã giải quyết cơ bản về nhà ở cho hộ Khmer nghèo. Đây là một thành tích đáng ghi nhận mà tỉnh Hậu Giang đã thực hiện, nhằm góp phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc Khmer. Bên cạnh đó, văn hóa dân tộc luôn được gìn giữ và phát huy. Thời gian qua, tỉnh cũng đầu tư xây dựng Trường Dân tộc nội trú, hỗ trợ kinh phí đóng ghe ngo; tổ chức tốt các lễ hội của đồng bào dân tộc Khmer; xây dựng và sửa chữa các chùa chiền; tặng cho các chùa nhiều giàn nhạc ngũ âm;... Nhìn chung, đời sống vật chất tinh thần của đồng bào dân tộc được nâng lên rõ rệt. Đồng bào sư sãi Khmer trong tỉnh phát huy tốt nội lực, tăng gia lao động sản xuất, chấp hành và thực hiện tốt những chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Những năm gần đầy, tuy tỷ lệ hộ Khmer thoát nghèo có cao hơn trước, nhưng tình trạng tái nghèo vẫn còn diễn ra. Tôi nghĩ, đây là một khó khăn cần phải quan tâm hơn nữa.

* Để công tác dân tộc tốt hơn nữa trong thời gian tới, ông có ý kiến chỉ đạo gì ?

- Mặc dù thời gian qua, Hậu Giang là một trong những tỉnh làm tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, để phát huy những mặt tốt đẹp đó, tôi đề nghị Tỉnh ủy, UBND tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chủ trương, chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước như: Quyết định 135 (giai đoạn 2), Quyết định 74, Quyết định 167,... Trước mắt, là giải quyết dứt điểm nhà ở cho những hộ Khmer nghèo. Nhân đây, tôi kêu gọi toàn thể đồng bào, cán bộ, chiến sĩ nói chung, đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ nói riêng, hãy cùng chung tay tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, khắc phục khó khăn, hướng đến xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đặc biệt, phải luôn luôn đề cao cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhất là bọn phản động “Liên đoàn Khmer Campuchia Krôm”.

* Xin cảm ơn ông !


DUYÊN HẢI thực hiện

HƯỚNG TỚI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM TỈNH CÀ MAU LẦN THỨ I: Tân Lộc bước qua gian khó

Cách đây không lâu, Tân Lộc (huyện Thới Bình) còn là xã nghèo, xã thuộc vùng khó khăn trong Chương trình 135 của Chính phủ. Nhưng nay, những con lộ đất đen lầy lội ngày nào đã được bê-tông hóa; điện lưới quốc gia được phủ rộng phục vụ sản xuất, sinh hoạt; người dân có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe…

Điều làm nên những đổi thay của một xã nghèo, ngoài sự hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành còn có sự tự lực vươn lên của đảng bộ và nhân dân nơi đây.

Giai đoạn năm 2001-2005, xã Tân Lộc có 2.395 hộ dân, trong đó có 164 hộ người Khmer, 14 hộ người Hoa, số hộ nghèo là 329 hộ, chiếm tỷ lệ 14,7% (trong đó có 74 hộ dân tộc Khmer nghèo, tỷ lệ 45,79%).

Tuy là xã có nền sản xuất đa dạng: nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ; thế nhưng đời sống của đại bộ phận nhân dân, nhất là bà con dân tộc Khmer còn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do sản xuất lúa một vụ với giống kém chất lượng, những tiến bộ khoa học - kỹ thuật chưa được áp dụng phổ biến, dân trí thấp, thu nhập thấp, theo đó số hộ nghèo cao.

Những cơ hội đổi đời

Thực hiện Chương trình 135, xã Tân Lộc được đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng thiết yếu về điện, đường, trường, trạm y tế, hệ thống nước sạch. Các cơ sở phục vụ nhu cầu tôn giáo của người dân cũng được đầu tư xây mới như: tháp Hữu Nhem, chùa Cao Dân. Bên cạnh đó, việc đầu tư cho sản xuất của xã cũng được chú trọng, hệ thống thủy lợi, thủy nông nội đồng được nạo vét.

Đồng chí Nguyễn Văn Toàn, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Lộc, cho biết, ngoài những hỗ trợ từ Chương trình 135, đồng bào dân tộc Khmer còn được Nhà nước hỗ trợ về nhà ở theo Quyết định 134 của Chính phủ. Từ năm 2001 đến nay đã có 133 hộ được nhận nhà mới, tổng trị giá trên 1,3 tỷ đồng. Từ sự hỗ trợ này xã đã cơ bản đáp ứng nhu cầu nhà ở, góp phần tạo điều kiện để người dân "an cư - lạc nghiệp".

Song song với chương trình hỗ trợ về nhà ở, từ Quyết định 134, những hộ đồng bào dân tộc cũng được hỗ trợ về giống cây trồng, vật nuôi. Các chính sách miễn giảm học phí, cấp học bổng, chế độ hỗ trợ cho con em người dân tộc được địa phương quan tâm thực hiện kịp thời góp phần nâng cao dân trí.

Đảng ủy, UBND xã còn phối hợp với các ban, ngành ở địa phương phát động phong trào khuyến học, khuyến tài. Hiện nay, toàn xã có 14 con, em người dân tộc đang theo học các lớp đại học, 25 em học cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, hơn 10% gia đình người dân tộc đạt danh hiệu "gia đình hiếu học".

Cùng với việc hướng dẫn, hỗ trợ người dân phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, Đảng ủy, UBND xã còn đặc biệt chú trọng đến công tác trợ giúp pháp lý, nâng cao trình độ pháp luật cho nhân dân, nhất là đồng bào người dân tộc. Nhờ vậy đã hạn chế đến mức thấp nhất các vụ tranh chấp, mâu thuẫn, tạo không khí đoàn kết trong nhân dân.

Cần trợ lực để phát triển

Hiện nay, Tân Lộc được đánh giá là một trong những xã phát huy được hiệu quả từ các Chương trình 135, Quyết định 134 của Thủ tướng Chính phủ. Số hộ nghèo của xã giảm còn 139 hộ chiếm tỷ lệ 5,8%, trong đó có 30 hộ nghèo là người dân tộc, chiếm tỷ lệ 14,9% tổng số hộ dân tộc trong xã.

9/9 ấp có lộ bê-tông nối với trung tâm xã và đấu nối ra các trục lộ chính. Hơn 95% hộ dân sử dụng điện phục vụ sinh hoạt, 100% hộ dân sử dụng nước sạch và phương tiện nghe nhìn. Toàn xã có 3 điểm trường với 50 phòng học.

Trạm y tế của xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia năm 2003. Đây là điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận được với các dịch vụ y tế một cách tốt nhất.

Từ Chương trình 135, xã được đầu tư xây dựng chợ nông sản thực phẩm và bách hóa tổng hợp. Có hơn 200 hộ dân trong xã đến đây giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hóa.

Ông Từ Biên Hòa, cán bộ hưu trí ấp 7, phấn khởi: "Đời sống của nhân dân Tân Lộc đã có những bước tiến quan trọng. Điện, đường, trường, trạm được đầu tư, xây dựng tạo điều kiện thuận lợi để người dân nâng cao đời sống vật chất, tinh thần".

Đảng ủy, UBND xã đã xây dựng đề án về nâng cao năng suất tôm - lúa và được triển khai trong các cấp, các ngành đến nhân dân. Theo đó, định hướng đến năm 2012, diện tích, sản lượng tôm - lúa tăng từ 8-14%, sau đó tăng lên 24%. Tạo điều kiện để người dân tiếp cận và ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng, vật nuôi.

Trong quá trình phát triển đi lên, Đảng bộ và nhân dân xã Tân Lộc vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Vấn đề bức xúc nhất hiện nay là toàn xã vẫn còn khoảng 27.000 m lộ đất đen chưa được bê-tông hóa; trên 35 cầu nông thôn cần bắc mới để nối liền xóm, ấp, đồng thời rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn./.

Phương Lài


Chào mừng Đại hội Đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam huyện Trần Văn Thời lần thứ I Sức mạnh của tinh thần đại đoàn kết

Trong cuộc chiến tranh vệ quốc, đồng bào các dân tộc thiểu số đã kề sai sát cánh với dân tộc Kinh làm nên những thành tích "chấn động địa cầu". Những năm tháng kháng chiến gian khổ mà hào hùng ấy, quân và dân huyện Trần Văn Thời vẫn nhớ về Đại đức Hữu Nhem - đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam đã chiến đấu anh dũng và hy sinh tại chùa Tam Hiệp; Anh hùng liệt sĩ Danh Thị Tươi - người dẫn đầu cuộc đấu tranh chính trị trực diện với kẻ thù làm cho chúng khiếp sợ; đồng chí Lâm Thị Hoa đã phát động 178 cuộc biểu tình rầm rộ. Đồng chí được Đảng phân công vào Nghị viện Sài Gòn để đấu tranh với địch…

Và còn nhiều tập thể, cá nhân đã anh dũng chiến đấu với kẻ thù, nuôi dưỡng, che chở cán bộ hoạt động cách mạng như: chùa Tam Hiệp (xã Trần Hợi), chùa Rạch Cui (xã Khánh Bình Đông)…

Đồng chí Lưu Minh Nhựt, Phó Chủ tịch thường trực UBND huyện Trần Văn Thời cấp mùng cho người dân tộc nghèo ở ấp Vồ Dơi, xã Trần Hợi. Ảnh: CHÍ THANH
Phát huy truyền thống yêu nước

Đồng chí Lưu Minh Nhựt, Ủy viên thường vụ Huyện ủy, Phó Chủ tịch thường trực UBND huyện Trần Văn Thời khẳng định: "Đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Trần Văn Thời luôn phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường. Không chỉ chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, bà con còn thi đua thực hiện tốt các phong trào trên các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, xóa đói giảm nghèo, thực hiện cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, đặc biệt là cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh".

Qua cuộc vận động lớn, xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu học tập và làm theo gương Bác. Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện Trần Văn Thời lần thứ nhất năm 2009 (diễn ra ngày 24/11/2009) có sự tham gia của 150 tập thể, cá nhân được bình chọn qua các phong trào: giúp đỡ phát triển kinh tế gia đình, công tác từ thiện xã hội, thực hiện tốt chương trình, dự án hỗ trợ và bảo tồn văn hóa dân tộc…

Bác sĩ Diệp Sa Ly, Trưởng Khoa phụ sản Bệnh viện đa khoa khu vực Trần Văn Thời là một tấm gương tận tâm với công việc, tận tụy với nhân dân. Trong công tác, Bác sĩ Sa Ly luôn cống hiến hết mình cho sự nghiệp y tế, tuyệt đối trung thành với Đảng, có ý thức kỷ luật, có bản lĩnh chính trị vững vàng.

Lãnh đạo huyện Trần Văn Thời trao học bổng cho học sinh Trường Trung học dân tộc Danh Thị Tươi, xã Khánh Bình Tây. Ảnh: C.THANH
Bên cạnh đó, có rất nhiều mô hình sản xuất kinh doanh giỏi có hiệu quả cần được biểu dương và nhân rộng. Điển hình như ông Nguyễn Hoàng Sang, ấp 5, xã Khánh Bình Đông với nghề kinh doanh, dịch vụ xay xát lúa gạo, tạp hóa và sửa máy nổ, trừ chi phí còn lợi nhuận trên 150 triệu đồng/năm.

Ông Thạch Sol nhờ Nhà nước đầu tư vốn, thực hiện mô hình sản xuất có hiệu quả thoát nghèo, vươn lên làm giàu. Hay ông Huỳnh Mác, người dân tộc Khmer ấp Kinh Đứng B, xã Khánh Hưng là nông dân sản xuất giỏi, thực hiện tốt cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư". Năm 2009, gia đình ông được công nhận gia đình văn hóa tiêu biểu.

Cùng chung sức xây dựng quê hương giàu đẹp

Truyền thống yêu nước và tinh thần đại đoàn kết chính là những tài sản quý báu để đưa một huyện vùng sâu không ngừng phát triển, đi lên. Đồng bào dân tộc Khmer vốn có truyền thống yêu nước, đức tính cần cù, chịu khó trong lao động để phát triển kinh tế gia đình.

Trên địa bàn huyện có 3 chùa Phật giáo Nam tông Khmer với 7 sư sãi. Tại các chùa này đều thành lập Ban quản trị chùa.

Nhiều năm qua Ban quản trị chùa cũng như phật tử chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực hiện tốt các chương trình, dự án hỗ trợ đồng bào dân tộc nghèo…

Đồng bào người Hoa từ lâu đã cùng với các dân tộc anh em góp sức xây dựng huyện Trần Văn Thời nói riêng và vùng đất U Minh Hạ nói chung. Bà con người Hoa có đức tính cần cù, có ý thức cộng đồng, đoàn kết giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn để xây dựng cuộc sống ổn định, phát triển.

Đồng bào dân tộc Chăm, Mường, Tày, Thái, Lào cũng gắn bó đoàn kết với đồng bào Kinh, Khmer, Hoa, tích cực phát triển sản xuất và tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương.

Bên cạnh những nỗ lực của đồng bào dân tộc thiểu số, Đảng và Chính phủ tạo rất nhiều điều kiện để bà con vươn lên trong cuộc sống và đóng góp vào công cuộc đổi mới đất nước như: Chương trình 134, 135. Được biết, huyện đã xây dựng 7 chương trình, dự án hỗ trợ cho đồng bào dân tộc như: xây dựng 1.449 căn nhà, giải quyết hỗ trợ về đất ở, đất sản xuất, đầu tư vốn phát triển sản xuất hàng tỷ đồng để giải quyết việc làm, đầu tư trường, lớp cho con em người dân tộc học hành, vui chơi…

Huyện Trần Văn Thời có 44.523 hộ với hơn 184.000 khẩu. Người dân tộc thiểu số chiếm gần 18%, trong đó dân tộc Khmer 2.076 hộ với 9.619 khẩu; dân tộc Hoa có 123 hộ, với 589 khẩu, còn lại các dân tộc khác. 52 thương binh, 63 liệt sĩ, 4 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 2 anh hùng lực lượng vũ trang là người dân tộc.

Minh Kha - Chí Thanh - Tiệp Khắc

Khởi sắc ở vùng đồng bào dân tộc

Huyện U Minh hiện có 1.063 hộ dân tộc Khmer với 5.825 nhân khẩu, sống tập trung nhiều ở 3 xã: Khánh Hòa, Khánh Lâm và Nguyễn Phích. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng bào Khmer ở U Minh sát cánh cùng với đồng bào Kinh một lòng theo Đảng, tham gia kháng chiến.

Những cống hiến to lớn của đồng bào dân tộc Khmer trong huyện đã được Đảng và Nhà nước tôn vinh, ghi nhận. Toàn huyện có 28 gia đình Khmer có công với cách mạng, trong đó có 19 thương, bệnh binh và 9 liệt sĩ.

Ổn định đời sống người dân tộc

Cùng với cả nước, những năm qua, huyện U Minh thực hiện khá tốt các chương trình, dự án ưu đãi đối với đồng bào dân tộc. Chỉ tính riêng trong 5 năm qua, huyện đã xây dựng 705 căn nhà theo Quyết định 134, cấp trên 37 ha đất ở và đất sản xuất cho 25 hộ dân tộc Khmer nghèo, vận động nhân dân cho 115 hộ Khmer mượn đất để cất nhà ở và hỗ trợ nước sinh hoạt cho 358 hộ.

Qua đó, nhiều làng xóm mới có đông đồng bào Khmer như tuyến dân cư T29 - 89, T93… được hình thành. Bà con bắt tay vào khai phá, cải tạo đất đai, biến vùng rừng rậm hoang vu trở thành vùng đất phì nhiêu, dân cư đông đúc.

Sinh hoạt văn hóa, văn nghệ tại Salatel, ấp 6, xã Khánh Hòa.
Huyện U Minh có 4 xã được hưởng lợi từ Chương trình 135 của Chính phủ. Trong đó, xã Khánh Hòa đã được đầu tư xây dựng cụm xã theo tinh thần Quyết định số 648 của Chủ tịch UBND tỉnh với quy mô gần 27 ha.

Hiện đã triển khai xây dựng 25 công trình như: chợ xã, trường học, trạm y tế, đường giao thông… với tổng kinh phí trên 71 tỷ đồng. Ngoài ra, bà con trong xã còn được trợ giá, trợ cước, hỗ trợ cây, con giống trên 1,5 tỷ đồng; hỗ trợ vốn vay gần 50 tỷ đồng.

Bà con dân tộc Khmer của các xã còn lại cũng được hưởng nhiều ưu đãi về vốn vay, cây, con giống, hỗ trợ kiến thức khoa học - kỹ thuật trong sản xuất.

Phát triển đời sống văn hóa tinh thần

Phát triển đời sống văn hóa tinh thần cho bà con dân tộc Khmer là một trong những mục tiêu lớn mà huyện U Minh đang hướng đến. Ngôi Salatel được xây dựng khang trang tại ấp 6, xã Khánh Hòa với hàng trăm triệu đồng, là công trình sinh hoạt văn hóa đầu tiên trong huyện dành cho đồng bào dân tộc Khmer.

Vào những ngày lễ, Tết, bà con Khmer trong huyện tụ hội về đây thực hiện các nghi lễ tôn giáo, sinh hoạt, giao lưu văn hóa, văn nghệ. Cũng tại nơi đây đã vinh dự đón tiếp đồng chí Sơn Song Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ cùng với nhiều đồng chí lãnh đạo của Trung ương về thăm hỏi, nói chuyện với đồng bào.

Ngoài công trình Salatel, huyện còn đầu tư xây dựng con lộ bê-tông dài trên 2 km tại kinh Xóm Lớn (Nhà nước hỗ trợ 100% vốn). Từ khi con lộ được xây dựng, việc đi lại của bà con trong xóm thuận tiện hơn, bộ mặt xóm làng thêm khởi sắc.

Đổi thay ở những xóm làng có đông đồng bào dân tộc Khmer trong huyện U Minh đã tô thêm nét rạng ngời trên diện mạo của những miền quê mới. Đồng bào Khmer đang cùng với cộng đồng người Kinh ở địa phương nối tiếp truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, ra sức thi đua lao động sản xuất, quyết tâm làm giàu cho gia đình và góp phần xây dựng quê hương U Minh ngày thêm giàu đẹp./.

Bài và ảnh: Lê Hữu Lợi

Cần Thơ: Khai giảng năm thứ 3 Khoá I Học viện PG Nam tông Khmer

Cần Thơ: Khai giảng năm thứ 3 Khoá I Học viện PG Nam tông Khmer

image

Vào lúc 8 giờ ngày 17 tháng 5 năm 2009, tại chùa Pôthisomrôn, phường Châu Văn Liêm quận Ô Môn, Tp. Cần Thơ, Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo Nam tông Khmer long trọng tổ chức khai giảng năm thứ 3 (2009 - 2010) Khoá I – 2007 - 2011.

Đến chứng minh và tham dự có HT. Danh Nhưỡng – Phó Pháp chủ GHPGVN, Viện Trưởng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer; HT. Dương Nhơn – Phó Pháp chủ, Phó Chủ tịch HĐTS, Phó Viện trưởng; HT. Thạch Huônl – Phó Viện trưởng; HT. Đào Như – Uỷ viên Thư ký HĐTS, Phó Viện trưởng kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Điều hành Học viện; HT. Thích Huệ Trường – Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Trị sự Phật giáo Tp. Cần Thơ; HT. Lý Sân - Phó Trưởng Ban Trị sự Phật giáo, Hội trưởng Hội Sư sãi đoàn kết yêu nước Tp. Cần Thơ; TT. Thích Thiện Thống – Uỷ viên Thư ký HĐTS, Phó Văn phòng 2 TWGH; TT. Thích Thiện Đức – UV. HĐTS, UV. Ban Giáo dục Tăng Ni TW. GHPGVN cùng chư Tôn đức đại diện Hội Sư sãi đoàn kết yêu nước các tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Buổi lễ hân hạnh đón tiếp ông Sơn Trung Sơn – Phó ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ; ông Lương Văn Trừ - Trưởng ban Dân tộc Tp. Cần Thơ; đại diện các Cơ quan Trung ương đóng tại Tp. Cần Thơ; các Sở, ban ngành Tp. Cần Thơ, quận Ô Môn và phường Châu Văn Liêm sở tại.

Học viện Phật giáo Nam tông Khmer được khai giảng Khoá I (2007 - 2011) vào năm 2007, tại cơ sở tạm chùa Pôthisomrôn, phường Châu Văn Liêm quận Ô Môn, Tp. Cần Thơ, đến nay đã học được năm thứ 1 và năm thứ 2 đạt kết quả tốt đẹp và khai giảng năm thứ 3.

Năm thứ 3 Khoá I Học viện Phật giáo Nam tông Khmer, chư Tăng được đào tạo các môn: Sử tôn giáo phổ thông, dịch thuật Thanh Tịnh Đạo luận – tập Tuệ phẩm, cách liên từ, Văn học Khmer, logic học, Triết lý Theraveda, tiếng Anh Phật học, tiếng Sansakrit (Bắc phạn), tin học và các môn học khác do Giảng viên trường Đại học Cần Thơ đảm trách. Sau khi tốt nghiệp Học viện, chư Tăng Nam tông Khmer có đủ năng lực, trình độ để phục vụ GHPGVN, Hệ phái Nam tông Khmer và phục vụ cộng đồng dân tộc Khmer tại đồng bằng sông Cửu Long.

Có thể nói việc thành lập Học viện Phật giáo Nam tông Khmer là một chủ trương đúng đắn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong việc hỗ trợ tích cực Hệ phái Nam tông Khmer – thành viên thống nhất Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đào tạo nguồn nhân lực có năng lực, trình độ Cử nhân Phật học theo định hướng phát triển bền vững Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tôn trọng những biệt truyền của các thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Khi Học viện Phật giáo Nam tông Khmer được thành lập tạo nên sự hoan hỷ trọn vẹn của chư Tôn giáo phẩm, quý chư Tăng và đồng bào Khmer Nam bộ, đồng thời được sự quan tâm giúp đỡ của Đảng và Nhà nước các cấp trong việc xây dựng một Học viện Phật giáo Nam tông Khmer có quy mô tầm cở khu vực trên diện tích 11,3 hecta quận Ô Môn.

Hiện nay, Hội đồng điều hành Học viện được hỗ trợ của TW GHPGVN, Bộ, ngành Trung ương, Tp. Cần Thơ và quận Ô Môn đang xúc tiến lập đồ án tổng thể và chi tiết theo tỉ lệ 1/500 và sẽ tiến hành khởi công xây dựng trong thời gian tới.

Khi Học viện Phật giáo Nam tông Khmer xây dựng xong vừa là nơi học tập, sinh hoạt tôn giáo của chư Nam tông Khmer, vừa là nơi tổ chức lễ hội văn hoá dân tộc Khmer của đồng bào dân tộc Khmer tại đồng bằng sông Cửu Long cũng như chư Tăng Nam tông Khmer hội đủ các điều kiện về trình độ để theo học cấp cao hơn ở trong nước hoặc ở nước ngoài.























Theo: Giaohoiphatgiaovietnam.vn