Thứ Năm, 18 tháng 9, 2008

Tim Sa Khorn quay về nẻo thiện

16:00:0014/09/2008














Những dòng cam kết của Tim Sa Khorn: "Khi tôi được sự khoan hồng của Nhà nước Việt Nam, được ra khỏi nơi giam giữ, tôi sẽ là một công dân tốt trong xã hội, không nghe theo lời vận động xúi giục của kẻ xấu. Nếu tôi còn tái phạm, tôi cam kết sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật Nhà nước Việt Nam"


Tim Sa Khorn quay về nẻo thiện


Cuối tháng 6/2008, Tim Sa Khorn - còn có tên gọi khác là Tim Khone, Chau Khorn, Thiên Sóc Khone (An Giang) đã được sum họp với người thân sau khi chấp hành xong bản án 12 tháng tù giam. Ngày ấy cũng là ngày mà nhiều người, trong đó có các cán bộ chiến sĩ, Công an mong đợi.
Có mấy ai biết được rằng, từ trước mốc thời gian kể trên, lực lượng Công an đã có bao nhiêu công việc lặng lẽ nhưng chan chứa tình người, thể hiện sinh động chính sách nhân đạo và ưu việt của pháp luật Việt Nam dành cho những người từng có thời gian lầm đường, lạc lối nhưng qua học tập, cải tạo đã nhận thức được lỗi lầm của mình, có ý phục thiện để tái hòa nhập với cộng đồng như Tim Sa Khorn.
Nhiều người dân ở vùng đất Ba Chúc, huyện Tri Tôn (An Giang) vẫn nhớ mồn một rằng, năm 1978, khi vừa mới 10 tuổi, Tim Sa Khorn và cả gia đình bị bọn diệt chủng Pôn Pốt cưỡng bức sang sống ở Kirivong, huyện Tà Keo, Campuchia. Một năm sau đó, Tim Sa khorn được gia đình cho đi học tiếng Khmer tại chùa Bắc Thăm Đưng, huyện Kirivong. Được 5 năm, Tim Sa Khorn về phụ giúp gia đình.
Đến đầu năm 1990, Tim Sa Khorn về Việt Nam xin vào tu ở chùa Đôn Pe (còn gọi là chùa Sập Gia) ở thị trấn Ba Chúc nhưng cuối năm đó, anh ta lại về chùa Bắc Thăm Đưng để 3 năm sau đó, được bổ nhiệm làm sãi cả của chùa này.
Có nhiều người lầm tưởng rằng, Tim Sa Khorn đã mang quốc tịch Campuchia như hộ chiếu của anh ta được cấp ngày 21/4/2005 thể hiện. Thực ra đấy là hộ chiếu giả, do "bề trên" của Khorn "sản xuất" và tự ghi như thế để Khorn dễ bề qua lại biên giới Tây Nam.
Trở lại với vùng quê thuộc huyện Tri Tôn (An Giang), người dân chẳng xa lạ gì thân nhân họ hàng của Tim Sa Khorn. Chính Khorn cũng xác nhận rằng, ông nội của Khorn - ông Ta Tưm từng là sãi cả chùa Lân, xã Lê Trì từ năm 1983. Đến năm 1998, ông qua đời, thọ 88 tuổi. Tro cốt của ông Ta Tưm hiện vẫn để tại chùa Lân, hàng năm, con cháu của ông, trong đó có Tim Sa Khorn có đến cúng viếng.
Cha mẹ đẻ của Khorn là ông bà Tưm Tim và Nèang Tonh. Khorn còn có người bác ruột là Nèang Rên, cô ruột Nèang Rôm và người cậu ruột là Châu Lai. Cả ba người này đều sinh sống tại Ba Chúc, huyện Tri Tôn bằng nghề nông.
Bác ruột của Tim Sa Khorn - bà Nèang Rên năm nay 72 tuổi, nhà ở Ba Chúc kể, vợ chồng ông Tưm Tim, bà Nèang Tonh có 5 người con (4 trai, 1 gái, lớn nhất là 40 tuổi và nhỏ nhất là 21 tuổi - PV) và Tim Sa Khorn là người con lớn trong nhà.
Ngày 30/6/2007, Tim Sa Khorn bị lực lượng phối hợp gồm Công an tỉnh An Giang và Bộ đội Biên phòng Cửa khẩu Tịnh Biên bắt giữ vì hành vi "Nhập cảnh trái phép". Vật chứng thu giữ được gồm 54.000 riel Campuchia, 2.000 bath Thái, 1 CMND Campuchia, 2 ĐTDĐ, 2 cuốn sổ tay cùng nhiều giấy tờ khác. Trong ngày, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Tịnh Biên đã quyết định chuyển hồ sơ vụ vi phạm hành chính có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự cho Cơ quan ANĐT thụ lý theo thẩm quyền.
Theo kết quả điều tra, vào khoảng tháng 4/2005, Tim Sa Khorn được các tên Chau Riếp, Trần Mạnh Sinh, Thạch Ngọc Thạch, Tô Kim Thông - đại diện cho Liên đoàn Khmer Campuchia Krom (KKF) thế giới, có trụ sở tại Hoa Kỳ lôi kéo vào tổ chức này. Khorn được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội Sinh viên sư sãi KKF trụ sở tại Phnôm Pênh (do ông Dương Sinh làm Chủ tịch), kiêm Hội trưởng Hội Sinh viên sư sãi Campuchia Krom chi nhánh tại Kirivong.
Không chỉ KKF, Tim Sa Khorn còn tham gia tổ chức Hội ái hữu Khmer Campuchia Krom (trụ sở đặt tại Phnôm Pênh, do Tăng Sa Răc làm Chủ tịch). Chi nhánh đặt tại ấp Troi Tum Lọp, xã Phrắs Bach Chon Chum, huyện Kirivong do Sơn Sà Wan làm Chủ tịch và Tim Sa Khorn làm Phó Chủ tịch. Các tổ chức vừa kể đều có chung… nhiệm vụ chống đối Việt Nam tới cùng. Và người đứng đầu các tổ chức này luôn cung cấp "sinh hoạt phí" bằng USD cho Tim Sa Khorn. Nhiều khi tiêu xài quá hóp, hết tiền, Tim Sa Khorn dùng chiêu "quyên góp xây chùa". Thấy anh ta đi trên chiếc Camry đời mới bóng cóong, nhiều tổ chức, cá nhân rất tin và chẳng ngại móc hầu bao ra cho. Tổng cộng Khorn vận động lên tới hàng trăm triệu riel và hàng chục ngàn USD.

Những dòng cam kết của Tim Sa Khorn: "Khi tôi được sự khoan hồng của Nhà nước Việt Nam, được ra khỏi nơi giam giữ, tôi sẽ là một công dân tốt trong xã hội, không nghe theo lời vận động xúi giục của kẻ xấu. Nếu tôi còn tái phạm, tôi cam kết sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật Nhà nước Việt Nam".
Tim Sa Khorn đã dùng trụ sở của KKF tại Kirivong làm điểm hội họp, tập kết hàng ngàn tạp chí, băng đĩa có nội dung xuyên tạc, vu cáo Việt Nam để vận chuyển vào Việt Nam tuyên truyền. Tim Sa Khorn được phân công "phụ trách" địa bàn An Giang. Đồng bọn của Tim Sa Khorn có khoảng 50 người, trong đó có 17 người cùng quê An Giang với Khorn. "Tay chân" đắc lực nhất có thể kể đến Thạch Minh, Chau Sơn, Chau Inh, Nèang Phe, Chau Quê, Nang Ny. Thông qua những cộng sự này, Tim Sa Khorn luôn tìm cách kích động, lôi kéo đối tượng nội địa gây ra 4 vụ tụ tập đông người kéo đi khiếu kiện ở trung tâm tỉnh lỵ An Giang, Cần Thơ và TP HCM.
Một người dân địa phương từng dại dột nghe theo lời của Tim Sa Khorn kể, chính mắt anh ta chứng kiến việc bà Phe nhận tiền của Thạch Bình (người được phân công phụ trách địa bàn Sóc Trăng - PV) mang về Việt Nam giao cho Chau Sơn 100 USD, Nèang De 100 USD, Chau Inh 100 USD và Nèang Phe 50 USD. Tim Sa Khorn xác nhận, chính anh ta và những người vừa kể đã xúi giục, kích động bà con đi khiếu kiện đông người và "quậy" ở UBND xã An Cư, huyện Tịnh Biên. Để lên dây cót, gây ngộ nhận cho nhiều người, Tim Sa Khorn làm theo lời "chỉ dẫn" từ các đối tượng, tổ chức phản động bên ngoài.

Sau khi Tim Sa Khorn bị bắt, tay chân của anh ta cũng bị lật mặt. Chau Inh và Nèang Phe đã thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật như nhận tiền, nhận tạp chí và đĩa VCD có nội dung phản động, tham gia kích động tụ tập đông người để đi biểu tình, khiếu kiện. Cả hai đều đã đọc tờ thú nhận tội lỗi của mình. UBND xã An Cư ngay sau đó cũng có các văn bản thông báo hành vi vi phạm pháp luật của Tim Sa Khorn và một số đối tượng có liên quan như Chau Inh, Chau Sơn, Nèang De, Nèang Phe, Hùynh Út, Chau Hên… để quần chúng biết.
Cũng cần thông tin thêm, trước khi Tim Sa Khorn bị bắt giữ, ngày 16/6/2007, ông Nuôn Nghet - Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Phật giáo Campuchia đã có Văn bản số 502/07-ĐN gửi Đại tăng thống Tep Vông - Vua sãi Vương quốc Campuchia. Văn bản có đoạn viết: "Tùy kheo Tim Sa Khorn có hành động sai trái vi phạm giáo luật, gây chia rẽ tình đoàn kết dân tộc và quốc tế, đặc biệt giữa hai nước Campuchia - Việt Nam, đã sử dụng chùa này là Sở Chỉ huy để phục vụ hoạt động tuyên truyền làm ảnh hưởng đến giáo luật cao quý của Phật giáo". Từ nội dung báo cáo vắn tắt này, Chủ tịch Hội đồng trị sự Nuôn Nghet đề nghị cho xuất tu đối với Tim Sa Khorn. Ngày hôm sau, Đại tăng thống Tep Vông đã đồng ý theo đề nghị.
Một điều tra viên kể, lúc mới bị bắt, Tim Sa Khorn tỏ thái độ khai báo quanh co, nhỏ giọt, luôn tìm mọi cách né tránh tội lỗi. Tuy nhiên, sau khi được cán bộ điều tra giải thích về chính sách, pháp luật, về điều kiện được hưởng sự khoan hồng, Tim Sa Khorn đã ăn năn hối cải, khai báo toàn bộ tội lỗi của bản thân; đồng thời khai báo và tố cáo đồng bọn, tố cáo bọn cầm đầu đã lôi kéo, xúi giục anh ta vào con đường phạm tội.
Ngày 5/8/2007, Tim Sa Khorn đã bộc bạch nỗi niềm của mình trên tờ giấy kẻ ngang mà anh ta xin từ cán bộ điều tra rằng: "Vì tôi tin theo lời vận động xúi giục của kẻ xấu bên ngoài mà có tội với Nhà nước Việt Nam. Nay được Chính quyền Việt Nam giáo dục về pháp luật, chủ trương chính sách đối với người dân tộc Khmer và tôn giáo, tôi đã nhận ra đúng sai, thấy được tội của tôi cũng như thấy rõ sự nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước Việt Nam đối với bản thân tôi".

Thông qua giấy trắng, mực đen, Tim Sa Khorn "kêu gọi đến tất cả ông bà, cô chú, anh chị em đừng nghe theo lời vu khống, xúi giục của kẻ xấu bên ngoài làm mất tình đoàn kết giữa hai dân tộc Khmer - Kinh; giữa tôn giáo với chính quyền. Việc kích động, xúi giục cho kéo đông người đi khiếu kiện đòi đất ruộng, vườn là âm mưu của kẻ xấu bên ngoài... Một lần nữa tôi kêu gọi bà con ai có còn giữ tạp chí, đĩa VCD của Liên đoàn KKF có nội dung xấu đem giao nộp cho chính quyền ấp, xã để được sự khoan hồng của Nhà nước như bản thân tôi".
Nói được điều ân hận, kêu gọi nhiều người khác hãy tỉnh táo trước hành vi của kẻ thù nhưng thỉnh thoảng Tim Sa Khorn vẫn tỏ ra rất căng thẳng, thậm chí ngờ vực. Trước ngày ra Tòa, tâm trạng Tim Sa Khorn rối bời do anh ta quá hồi hộp, lo lắng. Suốt mấy đêm liền trước ngày ra Tòa, Tim Sa Khorn tỏ ra khó ngủ vì trong đầu cứ lởn vởn những câu hỏi và ý nghĩ: Tội của mình nghiêm trọng như thế làm sao có thể được Tòa xem xét để áp dụng chính sách khoan hồng? Chắc chắc, mình sẽ bị phạt tù rất nặng. Ra tù rồi, liệu mình còn đủ sức trở về với gia đình, người thân hay không?
Ngày 18/11/2007, sau khi nghe HĐXX của TAND tỉnh An Giang công bố mức án, Tim Sa Khorn thở phào nhẹ nhõm. "Thực tế không như ý nghĩ của mình rồi. Những gì mà các cán bộ điều tra nói rất đúng!" - Khorn thầm nghĩ. Anh ta tự tin hơn và nhìn HĐXX, đặc biệt là những cán bộ Công an thầm nói lời cảm ơn. Bước ra khỏi phòng xét xử, Khorn cảm thấy ân hận vô cùng trước những gì mà anh ta đã gây ra trước đó. Có người ghé vào tai của Khorn khi trên đường anh ta trở lại Trại tạm giam: "Cố gắng cải tạo cho tốt nhé!". Khorn không kịp nhìn mà chỉ biết gật đầu.
Những ngày Tim Sa Khorn chấp hành bản án đầy tính nhân đạo, anh ta lại được đối xử tử tế và ấn tượng. Ngoài những cán bộ quản giáo, thì Ban giám đốc, đại diện một số phòng nghiệp vụ Công an tỉnh An Giang thường xuyên thăm và động viên Tim Sa Khorn. Người thân của Tim Sa Khorn cũng được tạo điều kiện thuận lợi để vào trại.
Một lần có anh em bên Phòng An ninh điều tra ghé thăm, Tim Sa Khorn với khuôn mặt tươi tỉnh, trả lời các câu hỏi của các anh. Tim Sa Khorn luôn tươi cười thoải mái, thể hiện tâm trạng an tâm cải tạo. Một cán bộ hỏi Tim Sa Khorn về mức án 12 tháng tù mà anh ta đang chấp hành, Tim Sa Khorn cười đến nhăn cả mặt: "Tôi mừng quá cán bộ ơi. Vì cứ tưởng sẽ bị nặng lắm! Với mức án này, tôi rất biết ơn Công an, biết ơn Viện Kiểm sát, Tòa án đã khoan hồng, cho tôi một cơ hội trở về với cộng đồng".
Khi được hỏi sau khi ra tù sẽ về đâu sinh sống, Tim Sa Khorn trả lời ngay: "Sẽ trở về quê hương ở Ba Chúc để sinh sống với người cô ruột. Tôi sẽ không đi tu nữa. Nếu có điều kiện, tôi sẽ lấy vợ và làm ruộng, làm rẫy để sống". Còn đối với các ổ nhóm và đồng bọn trước đây, Khorn cam kết "sẽ cắt đứt mọi quan hệ vì thấy rõ bộ mặt thật của bọn họ rồi".
Khi được hỏi về việc giam giữ và đối xử của cán bộ điều tra, của cán bộ quản giáo và của Trại tạm giam, Tim Sa Khorn trả lời rằng được đối xử rất tốt, cán bộ điều tra đã phân tích rõ chính sách pháp luật cho anh ta hiểu từ đó mà an tâm khai báo đúng sự thật, được cho 2 bộ quần áo mới để thay đổi, cho tiền để mua thêm thức ăn. Cán bộ quản giáo đối xử với anh ta rất tốt, các yêu cầu cần thiết đều được đáp ứng đầy đủ, được khám bệnh và cho thuốc, hoàn toàn không có sự ép buộc, đánh đập hay cưỡng bức bất cứ điều gì.
Điều quan trọng nhất là hơn 2 tháng sau khi chấp hành xong bản án tù, Khorn đã làm đúng những gì đã hứa. Qua điện thoại với chúng tôi mới đây, lãnh đạo Công an huyện Tri Tôn cho biết, Khorn đang được hưởng đầy đủ mọi chính sách của Đảng, Nhà nước dành cho đồng bào Khmer. Tim Sa Khorn đang phấn đấu thể hiện qua những việc làm thiết thực có ích cho gia đình, cho nơi mà anh ta đã chôn nhau, cắt rốn.

Binh Huyền

Thứ Sáu, 18 tháng 7, 2008

Chùa- trái tim của đồng bào Khmer

Chùa- trái tim của đồng bào Khmer

Một năm người Khmer có tới 8 lần ăn Tết và tất cả các Tết của người Khmer đều diễn tại chùa. Với đồng bào dân tộc Khmer, chùa là nét đặc trưng vừa đại diện cho tôn giáo vừa đại diện cho dân tộc, là trung tâm để phát huy bản sắc văn hoá truyền thống của người Khmer…
Đến đồng bằng sông Cửu Long, thấp thoáng trong những bóng dừa, vườn cây hoa trái xanh mướt là những nóc chùa tháp Khmer rực rỡ. Nhà của người Khmer có thể đơn sơ nhưng ngôi chùa thì phải rực rỡ. Đây cũng chính là đặc điểm nổi bật của một ngôi chùa Khmer. Rực rỡ nhưng phải trang nghiêm. Thượng toạ Lý Hùng, trụ trì chùa Pitu-khôsa-răngsây tại thành phố Cần Thơ cho biết: “Chùa Khmer là nơi để sinh hoạt, gìn giữ các phong tục tập quán gắn với sinh hoạt của lễ nghi phật giáo. Tuỳ theo sự giàu nghèo của từng phum-sóc người Khmer mà ngôi chùa có thể to hay nhỏ. Vì thế, nếu nơi nào ngôi chùa được khang trang, trùng tu hưng thịnh thì nói lên rằng đời sống của đồng bào dân tộc Khmer ở đó có cuộc sống khấm khá, tịnh tài tịnh vật…”.

Theo ông Nguyễn Thành Tâm, phó ban Tôn giáo – Dân tộc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Cần Thơ: Hội phật giáo Nam Tông Khmer ở Cần Thơ có 12 ngôi chùa, số lượng đồng bào Khmer không đông nhưng hoạt động thì rất sôi nổi bởi tất cả các sinh hoạt văn hoá của người Khmer đều diễn ra ở chùa do đó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của đồng bào Khmer Nam Bộ. Mặt khác vai trò của các vị sư cả, các vị A cha, trụ trì chùa cũng rất là quan trọng trong việc lãnh đạo, hướng dẫn, giúp đỡ bà con không chỉ ở cuộc sống tâm linh mà còn đảm bảo được đời sống vật chất cho bà con.

Chùa Pitu-khôsa-răngsây

Một năm người Khmer có tới 8 lần ăn tết và tất cả các Tết của người Khmer đều diễn tại chùa. Tết Chol-chơ-nam thơ-may là Tết chính, còn gọi là Tết vào năm mới theo lịch Khmer (khoảng trung tuần tháng 4 dương lịch) diễn ra trong 3 ngày. Ngày thứ nhất lễ phật tại chùa, rồi rước cuốn lịch lớn từ chùa vào xóm. Buổi chiều làm lễ đắp núi cát. Đây là buổi lễ được nhiều người tham gia nhất, họ quan niệm, mỗi hạt cát giải thoát một kẻ tội lỗi của trần gian. Đến giao thừa, làm lễ tiễn năm cũ, đón tiên năm mới xuống trần, dân phum-sóc tụ tập trong chùa nghe kể về cuộc đời của đức phật. Ngày thứ hai, người dân Khmer đem nước hoa đến tắm phật tại điện chính, tưới nước lên các nhà sư… Ngày thứ 3, nhà chùa làm lễ cầu siêu cho những người đã chết, cầu bình an cho người sống.

Đua ghe ngo trong lễ hội Oóc om bóc

Lễ Đôn-ta cúng ông bà vào dịp cuối tháng tám âm lịch. Các gia đình mời sư về nhà tụng kinh rồi mọi người cùng lên chùa… Lễ hội cúng trăng Oóc om bóc được tổ chức bắt đầu bằng một buổi lễ đâm cốm dẹp mừng mùa vụ trong năm kết thúc, báo hiệu những ngày khô ráo đẹp trời đã đến. Sau đó là múa hát vui chơi và bao giờ cũng kết thúc bằng một cuộc đua ghe ngo rất hào hứng vào đúng giờ ngọ khi nước lên trên một khúc sông thẳng, đẹp, dài chừng 1km. Theo ông Lê Phú Khải, một nhà báo chuyên viết về đồng bằng sông Cửu Long: “Điều thú vị là chiếc ghe và dụng cụ của môn thể thao dân tộc độc đáo này đều do các chùa Khmer thiết kế. Chiếc ghe được sơn phết, trạm trổ rực rỡ như một con rồng, có sức chở 52 chàng trai khoẻ mạnh trên thân nó để đua tài, lướt sóng trên sông”.
Tượng Phật trên chánh điện

Người Khmer theo đạo phật, họ tin ở kiếp sau. Thanh niên Khmer lớn lên hầu hết đều có thời gian phải đi tu tại chùa để báo hiếu. Họ vào chùa để học đạo, học chữ (chữ Khmer và chữ phổ thông). Người Khmer quan niệm có tu mới nên người.
Màu áo của các sư sãi thuộc phái Nam Tông Khmer là màu vàng, màu cờ phật, màu lúa gạo. Trên áo có đường chỉ viền cắt ngang, tượng trưng cho bờ ruộng. Sư sãi Khmer gắn bó với gia đình và xã hội, họ tham gia mọi hoạt động của xã hội, địa phương, vì thế mà ngôi chùa đã trở thành trung tâm tôn giáo, tư tưởng, văn hoá, xã hội của các phum-sóc Khmer.
Kiến trúc độc đáo của những ngôi chùa Khmer
Kiến trúc của các chùa Phật giáo Nam Tông Khmer đều tuân thủ một quy cách bố cục đồng nhất. Chính điện bao giờ cũng ở trung tâm khuôn viên chùa. Các ngôi chùa muốn xây dựng thì trước tiên phải xây dựng Chính điện, sau đó là Đông lan, Tây lan.
Nóc nhà mái cong, trên tháp hình tam giác đứng nhô lên một tháp cao. Các cột đỡ mái chạy xung quanh đều có đắp hình đại bàng thân người giơ hai tay lên đỡ mái… mỗi đầu mái có đắp hình như con rắn vươn đầu lên trời…
Ngôi chùa mái vút cao, như vươn lên khỏi cuộc đời còn bao vất vả, đó là tất cả niềm hy vọng, niềm vui của đồng bào Khmer đang sinh sống ở đồng bằng sông Cửu Long.
Những ngày này, người Việt đang đón Tết Nguyên đán cổ truyền và tại các chùa chiền Khmer cũng được trang trí trang hoàng để cùng đón Tết với người Việt, người Hoa trong cộng đồng các dân tộc anh em Việt Nam./.

Phật giáo Nam tông Khmertrong bối cảnh thống nhất và hội nhập của Phật giáo VIệt Nam

Phật giáo Nam tông Khmertrong bối cảnh thống nhất và hội nhập của Phật giáo VIệt Nam

Hoà thượng Dương Nhơn
Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự
Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc. Đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ với dân số hiện nay khoảng 1,3 triệu người là một trong số 54 dân tộc, là cư dân có mặt lâu đời trên vùng đất Nam Bộ. Đồng bào dân tộc Khmer sống tập trung nhất ở các tỉnh, thành phố khu vực miền Tây Nam Bộ, một bộ phận sống ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Người Khmer có tiếng nói và chữ viết khá hoàn chỉnh, có nền văn hoá phong phú và đa dạng.
Phật giáo Nam Tông là tôn giáo chính thống của dân tộc Khmer. Văn hoá của Phật giáo ảnh hưởng nhiều đến đời sống tinh thần và trở thành yếu tố chi phối tư tưởng, tình cảm của cộng đồng dân cư. Ngôi chùa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, nơi dạy chữ dân tộc, dạy văn hoá và cũng là trung tâm sinh hoạt cộng đồng của đồng bào Khmer. Theo số liệu thống kê gần đây, toàn vùng có 453 chùa với khoảng 10.000 sư sãi, trong đó có 53 Hoà thượng, 60 Thượng toạ và 596 Đại đức. Quản lý, điều hành các hoạt động Phật sự, của chư Tăng và Phật tử có hội Mêkon, các Ban Trị sự và Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước các tỉnh, thành. Hiện nay, tỉnh Trà Vinh có Hội Mêkon. Trong Ban Trị sự các tỉnh, thành đều có các vị chức sắc của Phật giáo Nam Tông là thành viên. 7/9 tỉnh, thành trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước.
Sư sãi và đồng bào Phật tử Khmer Nam Bộ có truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo trong lao động, có ý thức nâng cao dân trí, xây dựng khối đoàn kết, dũng cảm trong đấu tranh và mơ ước một xã hội bình đẳng, tự do, công bằng, bác ái. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, truyền thống đó ngày càng phát huy mạnh mẽ, trở thành sức mạnh to lớn trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa.
Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, với tư tưởng chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sư sãi và đồng bào Phật tử Khmer đã có nhiều cống hiến xuất sắc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, thông qua các cuộc vận động của cách mạng, đồng bào Khmer Nam Bộ đã xuất hiện nhiều phong trào đấu tranh chống xâm lược. Nòng cốt trong các phong trào đó là những chức sắc tiêu biểu, trí thức tôn giáo là người dân tộc Khmer.
Sau ngày 30/4/1975, ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, các tổ chức Phật giáo hai miền thống nhất mở đại hội và tổ chức thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam, có Hiến chương và chương trình hoạt động của Giáo hội. Phật giáo Nam Tông Khmer đã tham gia đại hội với tư cách là thành viên trong ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam với tính biệt truyền của một hệ phái. Từ ngày thống nhất đến nay, nhiều vị chức sắc tiêu biểu của Phật giáo Nam Tông Khmer đã được Đại hội lần lượt suy tôn vào Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam như Hòa thượng Maha Thạch Srây, Hòa thượng Thạch Som, Hòa thượng Châu Mum, Hòa thượng Danh Nhưỡng, Hòa thượng Dương Nhơn. Phật giáo Nam Tông và Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng góp phần tích cực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trải qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng lâu dài cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, hầu hết Sư sãi và đồng bào Phật tử Khmer, mà nòng cốt là các vị chức sắc tiêu biểu, khẳng định rõ vị thế và vai trò của mình, tích cực tham gia các phong trào cách mạng tại địa phương, vận động sư sãi và đồng bào Phật tử Khmer phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Tham gia phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc. Động viên sư sãi và đồng bào Khmer hưởng ứng cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư. Củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội vùng dân tộc.
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, sư sãi và đồng bào Phật tử Khmer thể hiện tinh thần phấn khởi, tin tưởng vào chính sách đổi mới đối với tôn giáo, dân tộc của Đảng và Nhà nước. Thấy rõ quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo là rất phù hợp và đúng đắn thể hiện chính sách nhất quán về tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của công dân. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tôn giáo xác định: “Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Nghị quyết Đại hội X của Đảng cũng nêu rõ: “Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện chính sách nhất quán tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình đẳng theo pháp luật”.
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, trực tiếp là sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể ở địa phương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội ở vùng tôn giáo và dân tộc nói chung, vùng đồng bào Phật tử Khmer Nam Bộ nói riêng. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào từng bước được cải thiện, dân trí được nâng lên, văn hoá của dân tộc được bảo tồn và phát huy, tôn giáo truyền thống của dân tộc được tạo điều kiện hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Các vị chức sắc lãnh đạo các cấp Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước hoạt động đúng Điều lệ, tôn chỉ mục đích của Hội, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, theo phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”. Nhiều ngôi chùa Khmer được Nhà nước công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hoá. Các chùa có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng được hỗ trợ kinh phí để sửa chữa và xây dựng mới. Việc học hành của các nhà sư, việc in ấn kinh sách Phật giáo để phục vụ tu hành và việc tổ chức các lễ hội tôn giáo, dân tộc được các cấp chính quyền và ban ngành chức năng tạo điều kiện và hỗ trợ.
Cùng với chính quyền và đoàn thể các cấp, các vị chức sắc trong Phật giáo Khmer Nam Tông tích cực tuyên truyền, vận động sư sãi và đồng bào Phật tử thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tham gia tốt các phong trào cách mạng tại địa phương, nhất là lĩnh vực xoá đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc, giữ gìn an ninh trật tự và góp phần vào việc xây dựng khối đại đoàn kết tôn giáo và dân tộc.
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, trong thời kỳ hội nhập quốc tế, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước hiện nay, Phật giáo Nam Tông Khmer cũng đối mặt với một số vấn đề cần được quan tâm như:
- Các thế lực thù địch luôn tìm cách tác động, móc nối, lôi kéo sư sãi và đồng bào Phật tử Khmer để thực hiện ý đồ xấu, xuyên tạc và bôi nhọ chính sách tôn giáo và dân tộc của Đảng và Nhà nước.
- Hộ nghèo còn chiếm tỉ lệ cao, việc thích nghi với cơ chế thị trường còn nhiều bất cập, thiếu thông tin, việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật còn thấp kém, chuyển dịch kinh tế nông nghiệp còn lúng túng, dịch bệnh, thiên tai thường diễn ra, giá cả biến động từng lúc bất lợi cho nông dân. Việc đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động còn quá ít. Việc bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống có mặt còn khó khăn. Hiệu quả công tác giáo dục đào tạo vùng dân tộc còn thấp. Chương trình giảng dạy, hiệu quả dạy học trong hệ thống các trường chùa còn nhiều bất cập, chưa được quản lý và chỉ đạo thống nhất là những khó khăn chung cho Phật tử Khmer.
- Những yếu kém của Phật giáo Nam Tông bao gồm những khó khăn về mặt giáo quyền, tình trạng thiếu liên thông trong việc học hành của các nhà sư, bất đồng trong tổ chức lễ hội tôn giáo, dân tộc. Sự yếu kém trong quản lý, điều hành cơ sở thờ tự và hoạt động Phật sự chậm được khắc phục. Những khó khăn trong hoạt động của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước, của Trường Bổ túc văn hóa - Pali Trung cấp Nam Bộ, nhất là của Học viện Phật giáo Nam Tông mới được thành lập tuy được các ban ngành chức năng và địa phương quan tâm giúp đỡ nhưng chưa có hệ thống căn bản. Một số nơi trong vùng dân tộc còn có những hoạt động tôn giáo với mưu cầu lợi ích vật chất làm ảnh hưởng xấu đến phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc. Có nơi, một số sư sãi trẻ do nhận thức thấp kém đã bị kẻ xấu lợi dụng gây mất trật tự an toàn xã hội làm ảnh hưởng đến vị trí và vai trò của Phật giáo Nam Tông và cộng đồng dân tộc Khmer.
- Trình độ năng lực hạn chế của các vị sư và chức sắc trong Phật giáo Nam Tông có phần ảnh hưởng đến các mặt hoạt động, nhất là trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, các hoạt động xã hội trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và trong hội nhập kinh tế thế giới hiện nay.
Từ thực trạng trên, đối với vấn đề Phật giáo Nam Tông Khmer trong bối cảnh thống nhất và hội nhập của Phật giáo Việt Nam, tôi xin có một số kiến nghị, đề xuất như sau:
1. Cần nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của sư sãi và đồng bào Phật tử Khmer, diễn biến tình hình trong vùng dân tộc, nhất là những vấn đề bức xúc của địa phương để kịp thời tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền những giải pháp giải quyết kịp thời không để nảy sinh phức tạp có tính điểm nóng.
2. Tiếp tục thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế - xã hội một cách toàn diện với mức đầu tư thích hợp đối với vùng dân tộc, tôn giáo và địa bàn khó khăn để sớm thu hẹp sự chênh lệch về các mặt giữa các dân tộc, tôn giáo trên địa bàn.
3. Thấy rõ tính đặc thù trong quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc của đồng bào Khmer và truyền thống cách mạng của Phật giáo Nam Tông để có cách nhìn đúng đắn đối với các chức sắc trong cộng đồng dân tộc và giải quyết tốt mối quan hệ tôn giáo và dân tộc. Tiếp tục phát huy vai trò của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước trong việc quản lý, điều hành, tổ chức các hoạt động của Phật giáo, vận động giới sư sãi và đồng bào Phật tử, nhất là vai trò của các vị chức sắc tiêu biểu. Cho phép thành lập Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước các tỉnh An Giang và Vĩnh Long, trên cơ sở đó hình thành Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước cấp cao hơn tỉnh để thống nhất Điều lệ, thống nhất quản lý và điều hành các cấp Hội trong khu vực đối với các hoạt động tôn giáo, việc học hành của các vị sư, các lễ hội truyền thống của dân tộc.
4. Có chính sách đặc thù đối với Phật giáo Nam Tông Khmer, nhất là trong việc kiện toàn tổ chức trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam với tư cách là một hệ phái có tính biệt truyền hoạt động theo Hiến chương của Giáo hội. Thống nhất quản lý, điều hành về mặt giáo quyền có tính biệt truyền và đặc thù của tôn giáo dân tộc. Xây dựng và thống nhất quản lý có tính liên thông giữa các cấp học trong việc tổ chức dạy học của các vị sư Khmer tại các trường chùa. Tiếp tục hỗ trợ và tạo điều kiện cho Trường Bổ túc văn hóa - Pali Trung cấp Nam Bộ và Học viện Phật giáo Nam Tông hoạt động có hiệu quả. Có chính sách bồi dưỡng về vật chất và tinh thần cho các chức sắc tiêu biểu. Khen thưởng kịp thời đối với các chùa Khmer, các vị sư có công trong kháng chiến cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
5. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, ý thức trách nhiệm trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đối với sư sãi và đồng bào Phật tử Khmer. Phát động sâu rộng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng trật tự an ninh vững chắc nhằm ngăn chặn kịp thời những biểu hiện lợi dụng tôn giáo để hoạt động bất chính và nhất là chặn đứng những thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
6. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu đối với Phật giáo Nam Tông Khmer nhằm nâng cao trình độ cho các sư, nhất là các chức sắc, các trụ trì một cách toàn diện cả về Phật học và thế học để tiếp tục phát huy vai trò của Phật giáo trong cộng đồng dân tộc. Nghiên cứu từng bước tiến tới việc chuẩn hoá về đức độ và năng lực đối với các vị trụ trì của Phật giáo Nam Tông để nâng chất lượng sinh hoạt tôn giáo, quản lý cơ sở thờ tự, điều hành các lễ hội tôn giáo, dân tộc trong nhà chùa và trong cộng đồng dân cư.
7. Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần tăng cường công tác nghiên cứu, bồi dưỡng kiến thức cho Phật giáo Nam Tông về quan hệ giữa các tôn giáo trong nước và ngoài nước. Chú trọng việc giao lưu giữa các tôn giáo trong nước và quan hệ với Phật giáo các nước trong khu vực để xây dựng tốt quan hệ đoàn kết với các tôn giáo bạn và mở rộng giao lưu với Phật giáo các nước trong khu vực.

Chăm lo đời sống đồng bào Khmer ở tỉnh Vĩnh Long


Vĩnh Long là một trong những tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống. Từ bao đời nay, đồng bào Khmer đoàn kết với đồng bào Kinh trong công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ, đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như xây dựng quê hương, bảo vệ Tổ quốc.
Những năm vừa qua, với nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, thiết thực của Ðảng và Nhà nước, cùng với sự nỗ lực vươn lên của đồng bào, vùng nông thôn đã ngày càng thay da đổi thịt, đời sống của đồng bào dân tộc Khmer đã nâng cao về mọi mặt.
Ðó là ý kiến của ông Sơn Ry-ta, Phó trưởng Ban Tôn giáo - Dân tộc tỉnh Vĩnh Long khi trao đổi ý kiến với chúng tôi về tình hình đời sống đồng bào dân tộc Khmer những năm gần đây.
Trong những năm qua, chỉ riêng việc thực hiện Thông tư 912 của Chính phủ, tỉnh Vĩnh Long đã đầu tư nguồn vốn hàng chục tỷ đồng cho đồng bào vay, mượn, cho không để chuộc đất, khôi phục và phát triển sản xuất. Ðặc biệt, từ năm 1999, thực hiện Chương trình 135 của Chính phủ, ba xã Loan Mỹ, Tân Mỹ, Trà Côn đã được đầu tư hàng chục tỷ đồng xây dựng cơ sở hạ tầng gồm 52 công trình giao thông nông thôn; 11 công trình thủy lợi; tám công trình nước sinh hoạt; bảy công trình điện; 22 trường học, một trạm y tế; 5 công trình chợ.
Tiếp đó, thực hiện Quyết định 134 của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh đã xây dựng hơn 2.000 căn nhà đại đoàn kết. Cùng đó, nhiều chương trình khác được triển khai như công trình nước tập trung ở xã Tân Mỹ với kinh phí hơn 1,9 tỷ đồng, và đang triển khai trợ giúp 900 hộ sống rải rác xa tuyến dân cư, mỗi hộ từ một đến hai lu xi-măng để chứa nước sạch sinh hoạt.
Tương tự, các trạm y tế xã Ðông Bình, Ðông Thành, Loan Mỹ, Trà Côn, Tân Mỹ, Trung Thành..., nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống, đều đạt chuẩn quốc gia, trang bị đầy đủ các trang thiết bị cần thiết phục vụ việc khám, điều trị bệnh, trong đó có 9/12 xã có bác sĩ và 12/12 xã có y sĩ phục vụ. Ở đó, ngoài việc khám bệnh tại trạm, các cán bộ y tế xã thường xuyên xuống các hộ gia đình tuyên truyền, vận động tiêm phòng bệnh và vệ sinh môi trường, không để dịch bệnh xảy ra.
Ðời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer cũng đã được cải thiện rõ rệt. Hiện nay đã có 11/28 ấp có đông đồng bào dân tộc Khmer đạt ấp văn hóa. Nhiều thiết chế văn hóa được đầu tư xây dựng để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, đồng thời góp phần phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc. Trong đó, chỉ riêng năm 2006, ngành văn hóa-thông tin hỗ trợ xây dựng bốn phòng đọc sách ở bốn chùa, xây dựng 19 đội văn nghệ tại 11 chùa, và 18 đội nhạc công.
Công tác giáo dục-đào tạo cho con em đồng bào Khmer được quan tâm đúng mức, từng bước phát triển cả lượng và chất, không còn tình trạng học sinh bỏ học. Cơ sở vật chất trường lớp được đầu tư kiên cố hóa từ mẫu giáo đến trung học cơ sở. Tỷ lệ học sinh đến trường đạt cao hơn nhiều so với những năm trước. Chủ tịch xã Tân Mỹ Lê Quốc Trung cho biết, đồng bào dân tộc Khmer hiện nay rất chú ý cho con em học hành, đây là một bước chuyển rất đáng mừng.
Bên cạnh đó, chế độ ưu tiên cử tuyển con em đồng bào dân tộc Khmer cũng được thực hiện khá tốt. Chỉ riêng năm 2005-2006, đã cử tuyển 23 em học hệ đại học và cao đẳng, 8 em học hệ trung học chuyên nghiệp, 20 em dự bị đại học. Nhờ đó, đã có nhiều con em đồng bào dân tộc Khmer được đào tạo bài bản, hiện đang công tác tại các cơ quan trong và ngoài tỉnh.
Nhờ các chương trình, dự án được triển khai một cách đồng bộ, thiết thực, đã từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer. Ba xã đặc biệt khó khăn có cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh nhờ thực hiện Chương trình 135 của Chính phủ. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí cũ giảm dần từ 51% vào năm 1993 xuống còn 27% vào năm 2006. Qua việc hỗ trợ vốn sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, xây nhà đại đoàn kết, đã khuyến khích mọi người chí thú làm ăn, vươn lên thoát nghèo, tích cực tham gia các phong trào ở địa phương.
Ông Sơn Ry-ta khẳng định: "Ðến nay, cơ bản đã không còn hộ thiếu đói"; nhiều hộ chịu khó trong lao động sản xuất, tích lũy được vốn, vượt khó thoát nghèo, đời sống kinh tế được nâng lên; nếp sống văn hóa, văn minh và mức hưởng thụ văn hóa ngày càng cao. Ði qua các xã Tân Mỹ, Trà Côn, Loan Mỹ, Ðông Thành,... ở đâu chúng tôi cũng gặp nhiều hộ gia đình khá giả và cơ ngơi không thua so với đồng bào Kinh trên địa bàn.
Tỉnh Vĩnh Long đang tiếp tục tập trung triển khai thực hiện những giải pháp phát triển kinh tế - xã hội một cách đồng bộ để đồng bào dân tộc Khmer có điều kiện phấn đấu vươn lên nhằm nâng cao đời sống về mọi mặt. Có chính sách hỗ trợ học nghề để tạo lập việc làm, nhất là đối với những hộ không đất và thiếu đất sản xuất. Tiếp tục duy trì chính sách cử tuyển con em người dân tộc Khmer vào học các trường trung học, cao đẳng và đại học; tạo điều kiện để các em học tốt về phục vụ địa phương.
Mặt khác, thường xuyên tổ chức tập huấn, hướng dẫn kiến thức khoa học-kỹ thuật mới cho bà con nông dân Khmer để ứng dụng vào sản xuất, đời sống.
Theo Nguyễn San (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long)(Nhân Dân)
[TT: N.K.T]

Đồng bào dân tộc Khmer ở Trà Vinh đã được chăm lo tốt

Trà Vinh là một tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long. Tỉnh có hơn 30% là đồng bào Khmer. Đồng bào Khmer ở đây, chủ yếu là trồng lúa và một số ngành nghề khác như: chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ...

Dàn nhạc dân tộc phục vụ đám cưới
đồng bào DTTS Khmer tại thị trấn Hà Tiên (Kiên Giang)

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước cùng địa phương đã có nhiều chủ trương, chính sách đối với đồng bào dân tộc Khmer. Đặc biệt gần đây Chính phủ có thêm nhiều chương trình, dự án đầu tư trong vùng đồng bào dân tộc Khmer như: Chương trình 135; chính sách hỗ trợ hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; chính sách trợ giá, trợ cước... Các chương trình, chính sách trên tạo nên bước đột phá mới đã và đang phát huy hiệu quả, tạo nên những chuyển biến trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nói chung, vùng đồng bào dân tộc Khmer nói riêng. Chương trình 135, qua hơn 7 năm thực hiện ở 38 xã đặc biệt khó khăn trong tỉnh, đã xây dựng được 498 công trình cơ sở hạ tầng như: đường giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, trạm xá, trường học, chợ... với tổng số vốn đầu tư hơn 172 tỉ đồng. Ngoài ra đối với 8 trung tâm cụm xã, tỉnh cũng đã xây dựng được 87 hạng mục công trình cơ cở hạ tầng, với tổng số vốn đầu tư hơn 33 tỉ đồng. Để hỗ trợ cho đồng bào Khmer nghèo không đất sản xuất, tỉnh đã đầu tư hơn 872 triệu đồng cho 338 hộ đồng bào Khmer chuộc lại 112ha đất để sản xuất. Đồng thời, tỉnh còn vận động được 1.000 hộ có nhiều đất cho 1.400 hộ ít đất hoặc không đất mượn hơn 660 ha để sản xuất 1 vụ màu hoặc 1 vụ lúa/năm. Riêng thực hiện chính sách hỗ trợ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, đến nay tỉnh cũng đã hỗ trợ cho 29.958 hộ Khmer nghèo với 2,8 triệu kg lúa giống, 142.300 cây ăn trái, 39.100 kg giống màu, 2,9 triệu con giống, với số tiền hơn 7,5 tỉ đồng, để giúp đồng bào giải quyết một phần khó khăn trong cuộc sống và thực hiện hỗ trợ chăn nuôi bò cho 5.500 hộ nghèo. Bên cạnh đó, để giúp đồng bào Khmer có vốn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mở rộng sản xuất, mở rộng các ngành nghề ở nông thôn... các ngân hàng thương mại tỉnh đã cho các hộ Khmer vay hàng trăm tỉ đồng vốn ưu đãi phát triển kinh tế gia đình. Khi có nguồn vốn và được chuyển giao khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, cùng với việc chí thú làm ăn, nhiều hộ nông dân Khmer đã trở nên khấm khá và không ít hộ đã và đang phấn đấu trở thành chủ kinh tế trang trại. Hộ anh Sơn Thủy ở Khóm 1, phường 7, thị xã Trà Vinh, áp dụng mô hình V.A.C khép kín, mỗi năm thu nhập hơn 40 triệu đồng và hiện nay gia đình anh đã mua thêm được 29 công vườn.

Không riêng gì anh Sơn Thủy, mà nhiều hộ nông dân người dân tộc Khmer khác ở Trà Vinh đã có cuộc sống khấm khá và trở thành những nông dân sản xuất kinh doanh giỏi của tỉnh, góp phần giảm tỉ lệ số hộ nghèo toàn tỉnh từ 43% (năm 1992) xuống còn 13,4% (năm 2005) và có 8/38 xã đặc biệt khó khăn đã hoàn thành cơ bản mục tiêu chương trình.

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm lo cho đồng bào Khmer nghèo, Trà Vinh đã thực hiện đề án xây dựng 20.660 căn nhà ở cho hộ dân tộc Khmer với tổng số vốn đầu tư hơn 186,3 tỉ đồng. Đến nay, sau hơn 3 năm thực hiện đã xây dựng được 12.851 căn, mỗi căn trị giá hơn 5,5 triệu đồng. Thực hiện Quyết định 134 của Chính phủ về hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số, đến nay tỉnh đã xây dựng hoàn thành 5.636 căn nhà bàn giao cho các đối tượng, xây dựng hệ thống cấp nước sạch sinh hoạt với hơn 14,5 tỉ đồng, trong đó nhân dân đóng góp hơn 584 triệu đồng đã triển khai xây dựng hoàn thành được 4.554 lu chứa nước, xây dựng được 22/80 trạm cấp nước, lắp đặt 2.000 đồng hồ nước cho 2.000 hộ dân...

Nguyễn Tân

Thứ Ba, 15 tháng 7, 2008

Lễ hội của người Khmer

1. Bonh Chôl Chnam Thmây:

Lễ vào năm mới, mang ý nghĩa là mừng thêm một tuổi, tương tự như Tết Nguyên đán của người Việt, với hy vọng năm mới đến sẽ đem lại những điều may mắn. Được diễn ra vào giữa tháng 4 dương lịch (tháng 3 âm lịch), không cố định ngày, hàng năm đều do các nhà thiên văn bói toán ấn định, tính theo vòng quay trái đất quanh mặt trời trong một năm sẽ định ra được ngày, giờ cụ thể trong năm đó. Đến khi có được ngày, giờ cụ thể và tới thời gian đó, bà con ăn mặc đẹp, đem nhang đèn đến chùa làm lễ đón Giao thừa, sau giờ phúc đó sẽ bước vào năm mới và được tổ chức đón tết trong 03 ngày cụ thể như sau:
- Ngày thứ nhất gọi là Thngay Chôl Chnam Thmây (ngày vào năm mới), bà con làm cơm đi chùa vào buổi sáng và buổi trưa để dâng đến các vị Sư, được nghe các vị chúc tụng năm mới. Đêm lại, nghe các vị Sư tụng kinh Cầu an năm mới, cầu cho “Quốc thái dân an” và hưởng được 4 pháp của đức Phật (sống lâu, sắc đẹp, an vui và sức mạnh), rồi được nghe các vị thuyết pháp về ý nghĩa của lễ Chôl Chnam Thmây và sau đó thanh niên nam nữ cùng nhau múa hát trước sân chùa.
- Ngày thứ hai gọi là Thngay Von-boch cũng giống như ngày thứ nhất vẫn làm cơm đi chùa dâng đến các vị Sư và lắng nghe các vị chúc tụng, cầu an, thuyết pháp giảng đạo, rồi các thanh niên nam nữ vui chơi trước sân chùa.
- Ngày thứ ba gọi là Thngay Lơn-săk (ngày thêm tuổi), mới chính là ngày chánh cũng là ngày cuối tết, tương tự như hai ngày đầu, nhưng ngày này bà con đều đến đông đủ để làm lễ Cầu siêu cho người thân đã quá cố, để vong linh của họ sớm được siêu thoát. Chiều mọi người cùng nhau làm lễ tắm tượng Phật để tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn đức Phật, đồng thời cũng để rửa những điều không may của năm cũ để sang năm mới vạn sự như ý. Tết Chôl Chnam Thmây được kết thúc.

2. Bonh Đôl-ta:

Lễ ông bà, được tổ chức hàng năm vào ngày 29-30 tháng 8 âm lịch, nhằm tưởng nhớ công ơn cha mẹ, họ hàng và người thân đã quá vãng. Lễ được diễn ra trong 02 ngày:
- Ngày thứ nhất gọi là Sên Đôl-ta (cúng ông bà), vào ngày 29/8 âl, tại mọi gia đình làm một mâm cơm tươm tất, thấp nhang đèn, mời anh em họ hàng bạn bè lại cùng cúng, khấn vái, mời những linh hồn người thân đã vãng về ăn uống.
- Ngày thứ hai gọi là Bonh Phchum Banh (lễ hội linh) vào ngày 30/8 âl, ngày này là ngày hội của những linh hồn người thân đã quá cố đều hội tụ về chùa. Vì thế tất cả gia đình người Khmer đều làm cơm đi chùa, mời các vị sư tụng kinh cầu siêu và nhận hồng phúc mà chúng con dâng cúng hôm nay để sớm được siêu thoát. Lê Đôl-ta được kết thúc tại đây.

3. Bonh Oc-om-bok:

Lễ đút cốm dẹp, có nghĩa là người ta lấy cốm dẹp trộn với đường, dừa rồi vắt thành cục nhỏ kèm theo một trái chuối đút vào miệng các trẻ em từ 2 năm tuổi trở lên và để cho trẻ cầu nguyện những ước mơ của mình. Ngoài ra còn mang ý nghĩa mừng cơm mới vào những ngày trăng sáng mưa gió chấm dứt, nước từ từ rút xuống, mở đầu cho một mùa khô. Đồng thời cũng để tưởng nhớ đến công ơn Mặt trăng, được người dân Khmer coi như là một vị thần điều tiết mùa màng nên còn gọi là “lễ cúng trăng”, được tổ chức hàng năm vào ngày 15 tháng 10 âm lịch. Trong đó có tổ chức các môn thể thao giải trí như đua ghe Ngo, thuyền bầu,…

Ngoài ra còn nhiều lễ hội khác như: Lễ Dâng y cà-sa, lễ Cầu an, lễ chúc thọ, lễ Phật định, Phật đản,…

Người Khmer Có Họ Từ Khi Nào?


Dưới triều Nguyễn, tổng số người Việt gốc Miên chưa tới 150.000 người, nhưng vẫn được coi là một sắc dân có đủ quyền lợi như người Việt. Vua Gia Long đặt 5 nhánh họ: KIM, THẠCH, SƠN, LÂM, DANH để người Khmer đặt tên con cháu hầu dễ tra tầm gia phả. Trước đây người Khmer không có họ, người cha đặt họ cho con bằng tên của mình và đứa con sau này lấy tên của nó làm họ cho con nó. Năm họ trên đây được người Khmer gìn giữ cho đến ngày nay. Sau này người Khmer còn có thêm họ CHÂU do họ CHAU của Cao Miên mà ra. ( Lê Hương) Trong quyển sách "Người việt Gốc Miên" thì nhà khảo cứu Lê Hương đã cho biết nguồn gố "họ" của người Khmer do đâu mà có! Như vậy theo ông, họ người Khmer là do Vua Gia Long đặt ra từ 5 chữ "KIM, THẠCH, SƠN, LÂM, DANH" và sau này có thêm họ "CHÂU" là từ họ "CHAU" bên Cao Miên mà ra. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Đình Đầu thì người Khmer không phải chỉ có 6 họ như trên mà họ người Khmer trong sổ bộ triều đình có là:
1. Hoa
2. Đôn
3. Thạch
4. Cần
5. Tầm
6. Hòa
7. Sơn
8. Giáp
9. Nam
10. Tham
11. Sa
12. Ngãi
13. Trà
14. Trác
15. Côn
16. Lộc
17. Thuận
18. Nhượng
19. Mậu
20. Dương
Như vậy số liệu của 2 nhà khảo cứu này đưa ra không khớp với nhau. Có thể mỗi người dựa trên một nguồn sử liệu khác nhau mà đưa ra số liệu. Đối với bản tổng kết của nhà giáo Nguyễn Đình Đầu thì số liệu có lẽ là xác thực vì đó là những con số do ông biên dịch lai từ hệ thống "Châu Bản Địa Bạ" triều Nguyễn. Còn đối với số liệu của Lê Hương thì có thể đây là nguồn tài liệu cũ chưa được cập nhật ( 1969 đến nay) chăng? Hoặc là đã có cập nhật nhưng bản thân tôi chưa có được những tài liệu mới? Kính mong quý vị nào am hiểu chỉ giáo cho. Cảm ơn!
Melbourne 17/06/2004
Khoa Nam - STO


Xin xem chi tiết tại đây