Thứ Tư, 13 tháng 1, 2010

Khởi sắc ở vùng đồng bào dân tộc

Huyện U Minh hiện có 1.063 hộ dân tộc Khmer với 5.825 nhân khẩu, sống tập trung nhiều ở 3 xã: Khánh Hòa, Khánh Lâm và Nguyễn Phích. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng bào Khmer ở U Minh sát cánh cùng với đồng bào Kinh một lòng theo Đảng, tham gia kháng chiến.

Những cống hiến to lớn của đồng bào dân tộc Khmer trong huyện đã được Đảng và Nhà nước tôn vinh, ghi nhận. Toàn huyện có 28 gia đình Khmer có công với cách mạng, trong đó có 19 thương, bệnh binh và 9 liệt sĩ.

Ổn định đời sống người dân tộc

Cùng với cả nước, những năm qua, huyện U Minh thực hiện khá tốt các chương trình, dự án ưu đãi đối với đồng bào dân tộc. Chỉ tính riêng trong 5 năm qua, huyện đã xây dựng 705 căn nhà theo Quyết định 134, cấp trên 37 ha đất ở và đất sản xuất cho 25 hộ dân tộc Khmer nghèo, vận động nhân dân cho 115 hộ Khmer mượn đất để cất nhà ở và hỗ trợ nước sinh hoạt cho 358 hộ.

Qua đó, nhiều làng xóm mới có đông đồng bào Khmer như tuyến dân cư T29 - 89, T93… được hình thành. Bà con bắt tay vào khai phá, cải tạo đất đai, biến vùng rừng rậm hoang vu trở thành vùng đất phì nhiêu, dân cư đông đúc.

Sinh hoạt văn hóa, văn nghệ tại Salatel, ấp 6, xã Khánh Hòa.
Huyện U Minh có 4 xã được hưởng lợi từ Chương trình 135 của Chính phủ. Trong đó, xã Khánh Hòa đã được đầu tư xây dựng cụm xã theo tinh thần Quyết định số 648 của Chủ tịch UBND tỉnh với quy mô gần 27 ha.

Hiện đã triển khai xây dựng 25 công trình như: chợ xã, trường học, trạm y tế, đường giao thông… với tổng kinh phí trên 71 tỷ đồng. Ngoài ra, bà con trong xã còn được trợ giá, trợ cước, hỗ trợ cây, con giống trên 1,5 tỷ đồng; hỗ trợ vốn vay gần 50 tỷ đồng.

Bà con dân tộc Khmer của các xã còn lại cũng được hưởng nhiều ưu đãi về vốn vay, cây, con giống, hỗ trợ kiến thức khoa học - kỹ thuật trong sản xuất.

Phát triển đời sống văn hóa tinh thần

Phát triển đời sống văn hóa tinh thần cho bà con dân tộc Khmer là một trong những mục tiêu lớn mà huyện U Minh đang hướng đến. Ngôi Salatel được xây dựng khang trang tại ấp 6, xã Khánh Hòa với hàng trăm triệu đồng, là công trình sinh hoạt văn hóa đầu tiên trong huyện dành cho đồng bào dân tộc Khmer.

Vào những ngày lễ, Tết, bà con Khmer trong huyện tụ hội về đây thực hiện các nghi lễ tôn giáo, sinh hoạt, giao lưu văn hóa, văn nghệ. Cũng tại nơi đây đã vinh dự đón tiếp đồng chí Sơn Song Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ cùng với nhiều đồng chí lãnh đạo của Trung ương về thăm hỏi, nói chuyện với đồng bào.

Ngoài công trình Salatel, huyện còn đầu tư xây dựng con lộ bê-tông dài trên 2 km tại kinh Xóm Lớn (Nhà nước hỗ trợ 100% vốn). Từ khi con lộ được xây dựng, việc đi lại của bà con trong xóm thuận tiện hơn, bộ mặt xóm làng thêm khởi sắc.

Đổi thay ở những xóm làng có đông đồng bào dân tộc Khmer trong huyện U Minh đã tô thêm nét rạng ngời trên diện mạo của những miền quê mới. Đồng bào Khmer đang cùng với cộng đồng người Kinh ở địa phương nối tiếp truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, ra sức thi đua lao động sản xuất, quyết tâm làm giàu cho gia đình và góp phần xây dựng quê hương U Minh ngày thêm giàu đẹp./.

Bài và ảnh: Lê Hữu Lợi

Cần Thơ: Khai giảng năm thứ 3 Khoá I Học viện PG Nam tông Khmer

Cần Thơ: Khai giảng năm thứ 3 Khoá I Học viện PG Nam tông Khmer

image

Vào lúc 8 giờ ngày 17 tháng 5 năm 2009, tại chùa Pôthisomrôn, phường Châu Văn Liêm quận Ô Môn, Tp. Cần Thơ, Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo Nam tông Khmer long trọng tổ chức khai giảng năm thứ 3 (2009 - 2010) Khoá I – 2007 - 2011.

Đến chứng minh và tham dự có HT. Danh Nhưỡng – Phó Pháp chủ GHPGVN, Viện Trưởng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer; HT. Dương Nhơn – Phó Pháp chủ, Phó Chủ tịch HĐTS, Phó Viện trưởng; HT. Thạch Huônl – Phó Viện trưởng; HT. Đào Như – Uỷ viên Thư ký HĐTS, Phó Viện trưởng kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Điều hành Học viện; HT. Thích Huệ Trường – Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Trị sự Phật giáo Tp. Cần Thơ; HT. Lý Sân - Phó Trưởng Ban Trị sự Phật giáo, Hội trưởng Hội Sư sãi đoàn kết yêu nước Tp. Cần Thơ; TT. Thích Thiện Thống – Uỷ viên Thư ký HĐTS, Phó Văn phòng 2 TWGH; TT. Thích Thiện Đức – UV. HĐTS, UV. Ban Giáo dục Tăng Ni TW. GHPGVN cùng chư Tôn đức đại diện Hội Sư sãi đoàn kết yêu nước các tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Buổi lễ hân hạnh đón tiếp ông Sơn Trung Sơn – Phó ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ; ông Lương Văn Trừ - Trưởng ban Dân tộc Tp. Cần Thơ; đại diện các Cơ quan Trung ương đóng tại Tp. Cần Thơ; các Sở, ban ngành Tp. Cần Thơ, quận Ô Môn và phường Châu Văn Liêm sở tại.

Học viện Phật giáo Nam tông Khmer được khai giảng Khoá I (2007 - 2011) vào năm 2007, tại cơ sở tạm chùa Pôthisomrôn, phường Châu Văn Liêm quận Ô Môn, Tp. Cần Thơ, đến nay đã học được năm thứ 1 và năm thứ 2 đạt kết quả tốt đẹp và khai giảng năm thứ 3.

Năm thứ 3 Khoá I Học viện Phật giáo Nam tông Khmer, chư Tăng được đào tạo các môn: Sử tôn giáo phổ thông, dịch thuật Thanh Tịnh Đạo luận – tập Tuệ phẩm, cách liên từ, Văn học Khmer, logic học, Triết lý Theraveda, tiếng Anh Phật học, tiếng Sansakrit (Bắc phạn), tin học và các môn học khác do Giảng viên trường Đại học Cần Thơ đảm trách. Sau khi tốt nghiệp Học viện, chư Tăng Nam tông Khmer có đủ năng lực, trình độ để phục vụ GHPGVN, Hệ phái Nam tông Khmer và phục vụ cộng đồng dân tộc Khmer tại đồng bằng sông Cửu Long.

Có thể nói việc thành lập Học viện Phật giáo Nam tông Khmer là một chủ trương đúng đắn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong việc hỗ trợ tích cực Hệ phái Nam tông Khmer – thành viên thống nhất Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đào tạo nguồn nhân lực có năng lực, trình độ Cử nhân Phật học theo định hướng phát triển bền vững Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tôn trọng những biệt truyền của các thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Khi Học viện Phật giáo Nam tông Khmer được thành lập tạo nên sự hoan hỷ trọn vẹn của chư Tôn giáo phẩm, quý chư Tăng và đồng bào Khmer Nam bộ, đồng thời được sự quan tâm giúp đỡ của Đảng và Nhà nước các cấp trong việc xây dựng một Học viện Phật giáo Nam tông Khmer có quy mô tầm cở khu vực trên diện tích 11,3 hecta quận Ô Môn.

Hiện nay, Hội đồng điều hành Học viện được hỗ trợ của TW GHPGVN, Bộ, ngành Trung ương, Tp. Cần Thơ và quận Ô Môn đang xúc tiến lập đồ án tổng thể và chi tiết theo tỉ lệ 1/500 và sẽ tiến hành khởi công xây dựng trong thời gian tới.

Khi Học viện Phật giáo Nam tông Khmer xây dựng xong vừa là nơi học tập, sinh hoạt tôn giáo của chư Nam tông Khmer, vừa là nơi tổ chức lễ hội văn hoá dân tộc Khmer của đồng bào dân tộc Khmer tại đồng bằng sông Cửu Long cũng như chư Tăng Nam tông Khmer hội đủ các điều kiện về trình độ để theo học cấp cao hơn ở trong nước hoặc ở nước ngoài.























Theo: Giaohoiphatgiaovietnam.vn

Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ vùng dân tộc Khmer Nam Bộ

Sáng 6/7, tại Sóc Trăng, Tổng cục XDLL - CAND - Bộ Công an tổ chức Hội nghị "Trao đổi kinh nghiệm xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ vùng dân tộc Khmer Nam Bộ".Đến dự hội nghị có Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn - Ủy viên TW Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Công an; Trung tướng Lê Quý Vương - Tổng cục trưởng Tổng cục XDLL; đại diện Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ cùng lãnh đạo Công an 18 tỉnh, thành có đồng bào Khmer sinh sống… Dân tộc Khmer Nam Bộ có khoảng 1,3 triệu người. Theo báo cáo, 6 tháng đầu năm 2009, các địa phương có đồng bào dân tộc Khmer sinh sống đã huy động lực lượng, áp dụng đồng bộ các biện pháp phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ, đấu tranh trấn áp các loại tội phạm, nhiều địa phương tình hình tội phạm, TTATXH được giảm so với cùng kỳ 2008.Với nhiều hoạt động đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ, từ đó đã phát triển và nhân rộng nhiều mô hình thiết thực và hiệu quả như: Mô hình "Biên giới bình yên, nội biên vững mạnh" ở Long An; mô hình "Xã, phường vững mạnh về quốc phòng an ninh" ở Sóc Trăng; mô hình "3 quản, 3 chống, 3 xây" của Hội Cựu chiến binh An Giang; mô hình "Ấp, khóm, gia đình an toàn về ANTT" ở Trà Vinh… Đặc biệt, mô hình "Tiếng kẻng ANTT" của Long An đã được Tổng cục XDLL - CAND chỉ đạo sơ kết, nhân rộng ra 21 tỉnh, thành phố Nam Bộ.Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn đánh giá cao công tác giữ gìn ANTT nói chung, trong khu vực đồng bào Khmer nói riêng của Công an 18 tỉnh, thành phía Nam trong thời gian vừa qua. Đồng thời, Thứ trưởng Nguyễn Khánh Toàn cũng chỉ đạo lực lượng Công an các tỉnh, thành có đồng bào Khmer sinh sống một số công tác trọng tâm trong thời gian tới. Nhất là, nghiên cứu cải tiến các nội dung, hình thức phát triển phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ. Lồng ghép sáng tạo các nội dung đó với phong trào phát triển sản xuất, chăm lo y tế, giáo dục và các phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư".Có các hình thức thi đua, động viên thiết thực để nhân dân phát huy vai trò làm chủ, tự giác tích cực tham gia giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện, mâu thuẫn phức tạp trong nội bộ nhân dân. Tham gia phát hiện đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm và giáo dục giúp đỡ những người lầm lỡ trở về với con đường làm ăn lương thiện…

LỄ DÂNG BÔNG CỦA NGƯỜI KHMER NAM BỘ

Thuở nhỏ, hầu như năm nào tôi cũng có dịp được thỏa thích ngắm năm, bảy đoàn dâng bông đi ngang qua ngõ. Đoàn dâng bông với những dầy (bà), những mìn (cô), những bòn (chị), mặc những chiếc xà rông (y phục truyền thống của dân tộc Khmer).
Những cô gái đẹp được chọn bưng những cây bông rực rỡ, lung linh bao sắc màu huyền ảo. Trong con mắt trẻ thơ của tôi, cây bông mới lạ lẫm và đẹp đẽ làm sao! Những cây bông được trang trí bằng những sợi tua rua đong đưa theo bước chân người, lấp lánh bởi những chiếc gương tròn nhỏ, xinh xinh. Đong đưa theo nhịp chân bước còn là những đồng tiền giấy được xếp gọn và cột lại rất xinh xẻo. Lễ dâng bông tiếng Khmer gọi là Bon phkar. Lễ được tiến hành theo nghi thức Phật giáo. Vào lễ, ngày đầu tiên bắt đầu vào buổi tối. Trước hết các sư sãi đọc kinh cầu nguyện, xong tới các chương trình ca nhạc, vui chơi giải trí phục vụ người đến dự lễ. Con sóc (người dân sống trong sóc) đến chùa đầy đủ. Khuôn viên chùa rộng vài héc-ta chật cứng người. Qua một đêm lễ hội, sáng hôm sau, đồng bào Phật tử mới làm lễ dâng bông dâng lên sư sãi.
Khi những cây bông cuối cùng được dâng lên, buổi lễ kết thúc.

Dâng bông là một tục lệ rất có ý nghĩa trong đời sống cộng đồng: Người ta tổ chức quyên góp để đắp đường, tu sửa trường học, nhà tăng, nhà hội... Lễ dâng bông của từng địa phương, tuy cách làm cây bông mỗi nơi có khác nhau đôi chút nhưng việc tiến hành lễ và mục đích lễ ở cả khu vực miền Tây Nam bộ nói chung đều rất giống nhau. Tất cả đều thể hiện một ý thức cộng đồng rất cao. Điều này dễ dàng nhận thấy qua hình ảnh ngôi chùa ở từng phum sóc. Dù nhà ở của con sóc còn đơn sơ, đời sống còn khó khăn nhưng ngôi chùa của họ vẫn cứ uy nghi, tráng lệ. Trong không gian yên bình, ngôi chùa vươn mái cong lên nền trời xanh như một niềm kiêu hãnh, một niềm tin mãnh liệt vào một ngày mai tươi sáng.
Cuộc Sống Việt _ Theo Hanoitourist-travel.com.vn

Tín hiệu vui từ phum sóc...

Đua ghe ngo của bà con dân tộc Khmer luôn góp phần tạo khí thế sôi nổi và màu sắc sinh động trong các dịp lễ hội ở Hậu Giang.
“5 năm qua, hầu hết chương trình, dự án dành cho đồng bào dân tộc Khmer đều được tỉnh Hậu Giang triển khai thực hiện rất tốt” - ông Sơn Song Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ cho biết.

* Phát triển sản xuất...

Hậu Giang có hơn 5.500 hộ dân tộc Khmer, với trên 25.500 nhân khẩu. Người Khmer sống hòa thuận trong cộng đồng cùng các dân tộc Hoa, Kinh và được Đảng, chính quyền quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi để bà con có cuộc sống ổn định.

5 năm qua, Hậu Giang đầu tư trên 200 tỉ đồng để chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho bà con đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn. Với những chương trình, dự án hỗ trợ đất sản xuất, đất ở; hỗ trợ xây dựng nhà, nước sạch, điện sinh hoạt; giải quyết việc làm; vốn sản xuất;... Nhờ đó, nhiều hộ Khmer chí thú làm ăn, thoát nghèo vươn lên ổn định cuộc sống.

Gia đình bà Thị Kiệp, ấp 7, ở xã Vị Tân (TX.Vị Thanh) 6 năm liền là hộ nghèo. Bà nói, cứ ngỡ sẽ không bao giờ thoát được cảnh thiếu trước, hụt sau. Nhưng từ khi được Nhà nước xây nhà tình thương, hỗ trợ vốn sản xuất, gia đình bà đã trả lại sổ nghèo. Chỉ được hỗ trợ 1 triệu đồng không hoàn lại, bà bắt tay vào nuôi heo. Sau nhiều lứa chăn nuôi thành công, đến cuối năm 2009, gia đình bà được xét thoát nghèo.

* Nâng cao dân trí...

Còn gia đình bà Thị Cụ, ở ấp 10, xã Lương Nghĩa (huyện Long Mỹ) trước đây nghèo lắm, nhưng nổi tiếng là một gia đình hiếu học. Bà Cụ có đến 8 đứa con, gia đình lại khó khăn, nên không đủ điều kiện cho con ăn học. Mấy người con đầu phải dang dở việc học do hoàn cảnh khó khăn, nên những người con sau, bà quyết tâm cho đi học để thoát nghèo. Tằn tiện và nhờ chính sách hỗ trợ của Nhà nước dành cho con em dân tộc Khmer, các con của bà tiếp tục được đi học. Bà Cụ nói: “Giờ tui có hai đứa con đang theo học tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh, còn một đứa đã tốt nghiệp THPT đang chờ đi học cử tuyển. Hàng tháng, chi phí ăn uống, dụng cụ học tập đều đã có Nhà nước hỗ trợ. Nếu không có Nhà nước quan tâm, chắc tụi nó dốt hết rồi. Tôi quyết tâm cho 3 đứa ăn học đến nơi đến chốn để sau này còn giúp ích cho gia đình và xã hội nữa”.

Không chỉ riêng gia đình bà Thị Cụ, mà ở cái xóm nhỏ nghèo này những gia đình người Khmer đã quan tâm đến việc học của con em mình nhiều hơn. Bà con lối xóm gặp nhau ngoài đường, ngoài chợ, không ai hỏi nhau nhà có bao nhiêu công đất, lúa vụ này bán được bao nhiêu, mà thay vào đó là những câu thăm hỏi liên quan đến chuyện học hành của con cháu mình.

* Và bảo tồn văn hóa...

Các hoạt động vui chơi, giải trí cho bà con - đặc biệt là văn hóa dân tộc luôn được tôn trọng, gìn giữ và tạo điều kiện để được phát huy. Trong các dịp lễ của đồng bào dân tộc Khmer như: Chol Chnam Thmây, Sene Đôn Ta, Ok Om Bok, các cơ quan chức năng đều tổ chức đoàn đến thăm và chúc mừng bà con, các lễ hội đua ghe ngo, thi văn nghệ, nấu ăn... Trong những hoạt động văn hóa đó, đua ghe ngo trở thành hoạt động truyền thống, mang đậm nét văn hóa đặc trưng của đồng bào Khmer miền sông nước Nam bộ. Riêng năm 2009, tỉnh đầu tư đóng thêm 3 chiếc ghe ngo mới trị giá trên 660 triệu đồng để tặng bà con Khmer.

Theo đánh giá của ông Sơn Song Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ: “Hiện tại địa bàn tỉnh Hậu Giang không còn hộ Khmer nghèo bức xúc về nhà ở. Trường Dân tộc nội trú dành cho con em đồng bào dân tộc Khmer được xây dựng khá khang trang, đầu tư trang thiết bị dạy học hoàn chỉnh. Có gần 500 cán bộ, sinh viên dân tộc Khmer được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ... Với những nỗ lực ấy, thể hiện rõ việc chăm lo đến đời sống, tinh thần bà con dân tộc Khmer của tỉnh Hậu Giang”.
Đến nay, trong tỉnh đã có 6 chiếc ghe ngo, với các đội ghe ngo của đồng bào Khmer thi thố, vui chơi dịp lễ hội. Ông Sơn Mến, ấp 11, xã Lương Nghĩa (huyện Long Mỹ), là một thành viên khá nhiệt tình trong đội ghe ngo, cho biết: “Từ khi được Nhà nước đóng tặng cho chiếc ghe ngo, bà con ai cũng vui. Người dân tộc Khmer chúng tôi có rất nhiều lễ hội trong năm, nhưng lễ hội nào cũng được chính quyền địa phương, lãnh đạo tỉnh tạo mọi điều kiện để chúng tôi được vui chơi giải trí. Chúng tôi vui vì được sự quan tâm không chỉ về mặt vật chất mà còn về tinh thần”.

Những năm qua, Hậu Giang còn quan tâm hỗ trợ đầu tư sửa chữa, nâng cấp những ngôi chùa Khmer, xây dựng nhà văn hóa để bà con Khmer đến vui chơi, sinh hoạt. Bây giờ, hầu hết các khuôn viên các nhà chùa đều rộng, có dàn nhạc ngũ âm để bà con Khmer vui chơi vào mùa lễ hội. Sư Thạch Đường, chùa Ô - Chum - Wong - Sa, ấp Thạnh Trung, xã Hỏa Lựu (TX.Vị Thanh) bày tỏ: “Năm qua, chùa được Nhà nước xây dựng thêm chính điện, tặng ghe ngo, giàn nhạc ngũ âm... Các sư và bà con ở đây vui lắm!”.

Cùng với những chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước, đời sống của đồng bào người dân tộc Khmer ở Hậu Giang đã và đang chuyển biến mạnh mẽ, thể hiện quyết tâm vượt khó, cần cù, vươn lên nâng cao mức sống, tập trung lo cho tương lai con cháu.
Bài, ảnh: DUYÊN HẢI

Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ tổ chức họp mặt Sêne Đôl-ta 2009

(CT)- Ngày 10-9-2009, tại TP Cần Thơ, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ đã tổ chức họp mặt mừng lễ Sêne Đôl- ta năm 2009. Dự họp mặt có hơn 500 đại biểu là quý sư sãi đại diện cho 439 chùa Khmer tại Nam bộ, cán bộ, gia đình chính sách tiêu biểu là người dân tộc Khmer và kiều bào dân tộc Khmer đang sinh sống tại nước ngoài.
Tại buổi họp mặt, các đại biểu đã được nghe Trung tướng Lưu Phước Lượng, Phó Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, báo cáo khái quát tình hình và một số kết quả thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta đối với đồng bào dân tộc Khmer. Năm qua, kết cấu hạ tầng vùng đồng bào dân tộc Khmer tiếp tục được đầu tư phát triển, các công trình thiết yếu như: giao thông, thủy lợi, trường học, điện nông thôn... được xây dựng mới, tiếp tục đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer. Qua đó, góp phần nâng tỷ lệ hộ dân sử dụng điện trong vùng đồng bào dân tộc Khmer lên trên 80%, 90% số hộ có nước sạch sử dụng. Các chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở được các địa phương tìm nhiều giải pháp thực hiện hiệu quả. Hầu hết hộ đồng bào dân tộc Khmer nghèo bức xúc về nhà ở đã được hỗ trợ nhà theo Chương trình 134.... Công tác giáo dục được các địa phương quan tâm xây dựng cơ sở vật chất, giúp đỡ con em đồng bào dân tộc Khmer nghèo đều được đến trường. Điều kiện khám chữa bệnh cho đồng bào dân tộc Khmer được tổ chức thực hiện đến tận cơ sở. Các chùa được chính quyền địa phương hỗ trợ để duy trì việc tổ chức dạy tốt chữ Khmer; tổ chức chu đáo các hoạt động văn hóa văn nghệ vào các ngày lễ, Tết truyền thống, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Công tác cán bộ trong vùng đồng bào dân tộc Khmer ngày càng được các cấp ủy đảng quan tâm đào tạo, bổ sung đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer có năng lực vào hệ thống chính trị. Đồng bào dân tộc Khmer luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, góp phần cùng chính quyền giữ gìn và duy trì sự ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ông Thạch Chum, một kiều bào dân tộc Khmer tại Hoa Kỳ, phấn khởi cho biết: “Tôi rất vui mừng khi thấy Đảng, Nhà nước đã quan tâm rất nhiều đến đồng bào dân tộc Khmer, giúp cho đời sống của bà con Khmer trong nước phát triển, dân trí được nâng lên. Bà con Khmer ở nước ngoài đã hiểu được chính sách dân tộc đúng đắn của Nhà nước và sẽ cùng với đồng bào dân tộc Khmer trong nước đoàn kết xây dựng quê hương”. Thượng tọa Trà Kha Leng, Sư cả chùa Ông Kho, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, cho biết: “Thời gian qua, các Chương trình 134, 135, các chính sách trợ giá, trợ cước của Nhà nước đã giúp đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần rất nhiều. Cơ sở thờ tự, chùa Khmer được sửa chữa, xây mới tạo điều kiện thuận lợi cho sư sãi, đồng bào dân tộc Khmer sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng...”.
Kết thúc buổi họp mặt, đồng chí Sơn Song Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, khẳng định: “Với chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng, đồng bào dân tộc Khmer luôn được quan tâm chăm lo phát triển về mọi mặt đời sống. Đồng bào dân tộc Khmer trong nước, kiều bào tiếp tục phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, cố gắng lao động sản xuất để phát triển kinh tế gia đình và góp phần xây dưng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp”.
BÌNH NGUYÊN

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2010

Đổi thay toàn diện vùng đồng bào Khmer ở huyện Mỹ Tú

Đến Mỹ Tú vào những ngày giáp Tết nguyên đán mới thấy hết khí thế sôi động của một huyện thuần nông vùng đồng bào dân tộc Khmer. Cánh đồng lúa vàng bát ngát như báo hiệu một vụ mùa bội thu. Xen vào đó là màu xanh đậm của dưa hấu – loại cây được hỗ trợ bằng nguồn vốn của Chương trình 135 đang vào vụ thu hoạch.

Dưa hấu của bà con Khmer được hỗ trợ từ nguồn vốn 135.

Ngay chân ruộng dưa hấu của gia đình, anh nông dân Thạch Suôl cho biết: Tuy thời tiết năm nay không thuận lợi lắm với nhà nông, nhưng với kinh nghiệm và dày công chăm sóc nên 2 công dưa hấu của gia đình anh năm nay được mùa. Vì được hỗ trợ giống, kỹ thuật chăm sóc nên dưa hấu bán tại chân ruộng ước đạt 4.000-5.000 đồng/kg.

Phần lớn đồng bào dân tộc Khmer ở huyện Mỹ Tú, Sóc Trăng sống tập trung ở 9/16 xã của huyện với trên 15 ngàn hộ, dân số gần 70 ngàn người. Từ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các nguồn đầu tư qua các chương trình, dự án như 134, 135, trợ giá trợ cước, hỗ trợ sản xuất… các cấp, ngành trong huyện đã tập trung đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế – xã hội của huyện một cách toàn diện, nhất là tập chung cho các xã có đông đồng bào dân tộc Khmer.

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, từ nguồn vốn đầu tư của các chương trình, dự án cộng với đóng góp trong dân, huyện đã đầu tư trên 123 tỉ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần trong vùng đồng bào dân tộc Khmer. Tính đến thời điểm này, 100% số xã, ấp vùng dân tộc Khmer có đường bê tông hoặc trải nhựa, gần 70% số hộ Khmer được sử dụng điện lưới quốc gia và hệ thống nước sạch. Nhiều mô hình sản xuất-kinh doanh có hiệu quả được khuyến khích nhân rộng như mô hình trang trại nuôi heo, gà công nghiệp, nông lâm thuỷ sản kết hợp, thu hút và đem lại thu nhập ổn định cho hàng ngàn lao động trong vùng.

Nhờ được đầu tư đúng hướng nên đến nay 9/16 xã tập trung đông đồng bào dân tộc Khmer trong huyện đã có trạm y tế, phòng khám khu vực, trong đó có 7/9 trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia. Có trạm y tế, đồng bào đã quan tâm nhiều hơn đến công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Bên cạnh đó công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ y tế cơ sở là người dân tộc ở Mỹ Tú cũng được coi trọng, toàn huyện hiện có 37 cán bộ y tế là người dân tộc Khmer.

Công tác giáo dục được quan tâm ngày càng toàn diện hơn, huyện có 5 điểm trường trung học phổ thông, 1 trường trung học cơ sở dân tộc nội trú, tại các xã đều có hệ thống trường trung học cơ sở. Năm học 2007-2008, huyện huy động được gần 12 ngàn học sinh dân tộc Khmer ở các cấp học đến trường, phong trào học tiếng Khmer cũng được chú trọng với 255 lớp học song ngữ (tiếng Việt và tiếng Khmer) với 6.418 học sinh ở cấp tiểu học và trung học cơ sở, 536 giáo viên người dân tộc Khmer. Phong trào xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở ở huyện đều đã được công nhận đạt chuẩn.

Không chỉ có vậy, phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được các vị sư sãi, à cha và đồng bào Khmer thực hiện tốt. Năm 2007 có trên 11 ngàn hộ, 34/56 ấp được công nhận đạt chuẩn văn hoá. Công tác chăm lo cho các gia đình chính sách, người có công, giúp nhau xoá đói giảm nghèo luôn được cấp uỷ đảng, cộng đồng và khu dân cư quan tâm và thực hiện tốt, do vậy tỉ lệ hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo trên địa bàn giảm nhanh (4-5%/năm, giảm hơn 1% so với chỉ tiêu nghị quyết của đại hội Đảng bộ huyện đề ra)…

Tiếp chúng tôi trong bộn bề công việc của những ngày giáp Tết, ông Lâm Ren, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Sóc Trăng không giấu được niềm vui: Từ một huyện nghèo, nay Mỹ Tú đã vươn lên, có nhiều nét khởi sắc. Thành công này nhờ định hướng đúng của cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, nhưng điều đáng phấn khởi nhất là đồng bào Khmer đã dần thay đổi nếp nghĩ, cách làm xưa cũ, vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng, tránh được tâm lý trông chờ, ỷ lại. Điều này đã được khẳng định rõ, không chỉ ở Mỹ Tú mà còn ở những vùng tập trung đông đồng bào dân tộc Khmer trong tỉnh.

Bài và ảnh: Mạnh Cường