Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2009

LẮP ĐẶT ĂNG-TEN PARAPOL?

Hiện nay, ngày càng có nhiều người đăng ký, lắp đặt Ăng-ten Parapol (thiết bị thu tín hiệu truyền hình từ vệ tinh) để xem trực tiếp các kênh truyền hình trong và ngoài nước, phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí, học tập... Nhu cầu này là cần thiết, phù hợp với quyền lợi của người dân.
Một số nơi ở Trà Vinh, một số người đã tự ý lắp đặt Ăng-ten Parapol mà không đăng ký với cơ quan chức năng là trái với quy định của Nhà nước, do những kênh truyền hình nước ngoài không rõ nguồn gốc, có nhiều nội dung không phù hợp với thanh thiếu niên và thuần phong mỹ tục của người Việt Nam. Do đó, theo luật pháp quy định, sử dụng Ăng-ten Parapol để xem các chương trình truyền hình nước ngoài phải có sự quản lý của Nhà nước, nội dung có chọn lọc phù hợp, không vi phạm quy định của luật báo chí và bản quyền; đồng thời, đáp ứng nhu cầu thông tin, giải trí của nhân dân. Quốc gia nào cũng thực hiện quyền quản lý Nhà nước bằng pháp luật trên lĩnh vực Thông tin tuyên truyền theo đặc điểm quốc gia, dân tộc mình.
Tỉnh Trà Vinh đã có chủ trương: đối với những nơi đã tự ý lắp đặt, nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì làm các thủ tục đăng ký gửi đến cơ quan chức năng để được cấp phép sử dụng; nếu không có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì tự tháo dỡ xuống. Vừa qua, cơ quan chức năng của tỉnh đã có buổi gặp gỡ với sư Thạch Khem Ma Rinh ở chùa Rùm Sóc (xã Châu Điền, huyện Cầu Kè) - là người đã lắp đặt Ăng-ten Parapol cho một số nơi ở địa phương nhưng không đăng ký với cơ quan chức năng - để hướng dẫn thủ tục đăng ký, sử dụng thiết bị thu tín hiệu truyền hình từ vệ tinh và nhắc nhở sư Ma Rinh chấp hành quy định của pháp luật về việc này. Sư Ma Rinh đã thừa nhận việc làm sai trái của mình, hứa sẽ thực hiện và vận động bà con chấp hành tốt quy định của Nhà nước về việc lắp đặt Ăng-ten Parapol./.

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2009

Ðồng bào Khmer ở Sóc Trăng "trả sổ nghèo" đón Tết



ND - Trong khí trời se lạnh của những ngày cuối năm, chúng tôi có dịp đến thăm một số xã có đông đồng bào Khmer ở các huyện Vĩnh Châu, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) và rất mừng khi thấy nhiều hộ nông dân đến trụ sở UBND xã xin được trả lại sổ hộ nghèo để đón Tết được vui vẻ.
Là huyện vùng sâu có hơn 52% số dân là đồng bào Khmer, toàn huyện có 7/9 xã, thị trấn thuộc diện đặc biệt khó khăn, Vĩnh Châu là nơi giao thông cách trở, đời sống khó khăn nhất của tỉnh Sóc Trăng. Những năm gần đây với chính sách ưu đãi của Chính phủ từ Chương trình 135, 134 và nhiều dự án đầu tư vùng đồng bào Khmer đã tạo nên những chuyển biến tích cực. Hơn 40 công trình phúc lợi phục vụ phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào Khmer được xây dựng, tổng nguồn vốn gần 80 tỷ đồng.



Nông dân huyện Vĩnh Châu (Sóc Trăng)
thu hoạch hành tím.


Riêng để "đánh thức" vùng đất giồng cát ven biển Vĩnh Châu, rút ngắn khoảng cách đói nghèo, nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống, từ năm 2005 đến nay, Sóc Trăng đã đầu tư hàng chục tỷ đồng phối hợp với các nhà khoa học của Trường đại học Cần Thơ, Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long... đẩy mạnh chuyển giao các tiến bộ khoa học, kỹ thuật như trồng lúa cao sản năng suất cao, nuôi tôm sú, trồng vú sữa Lò Rèn, nuôi bò lai sind... Qua những mô hình này, nhiều nông dân Khmer sản xuất giỏi đã trở thành triệu phú nông thôn. Chú Sơn Dươl, ở ấp Ðại Bái A, xã Lạc Hòa là một người trong số đó.

Hôm chúng tôi đến thăm, chú Dươl thật thà kể: "Ngày trước nghèo lắm, nhà tôi mỗi bữa ăn đều phải độn khoai. Con em chẳng đứa nào được đi học...". Tuy bị thương tật nhưng nhờ chí thú làm ăn nên năm 2005, chú được ngân hàng đầu tư 10 triệu đồng, được các nhà khoa học Trường đại học Cần Thơ, Trung tâm khuyến nông Sóc Trăng giúp đỡ cộng với nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước, trở thành người tiên phong tham gia trồng lúa cao sản.Vụ lúa đầu tiên trúng mùa, trúng giá, trả xong nợ Nhà nước, chú còn đủ tiền đóng một cây nước sạch phục vụ cho sinh hoạt và tưới hành tím, củ cải trắng, dưa hấu, nhãn.

Tết này, từ nguồn lợi thu nhập lúa, hành tím, gia đình chú thu lãi hơn 20 triệu đồng. Từ nguồn vốn nghĩa tình của Nhà nước, chú đã có một cơ ngơi khá vững chắc: một căn nhà tường trông khá khang trang, hai ha đất sản xuất một vụ lúa, hai vụ màu, sáu con bò lai sind, thu nhập từ sản xuất lúa, màu, chăn nuôi bò hơn 60 triệu đồng, trừ chi phí sản xuất thực lãi gần 30 triệu đồng/năm.

Ở Vĩnh Châu, không chỉ có gia đình chú Dươl mà còn rất nhiều hộ người Khmer khác, trước đây nghèo lắm, chỉ sống nhờ vào việc mò cua bắt cá ở vùng đất ven biển để sống qua ngày, nay đã có cuộc sống khấm khá và trở thành những nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi của huyện. Chỉ riêng năm 2008, Vĩnh Châu có hơn 2.000 hộ thoát nghèo, trong đó phần lớn là hộ đồng bào Khmer. Vui hơn là có thêm hàng trăm hộ tự nguyện làm đơn xin rút khỏi danh sách hộ nghèo, nỗ lực vươn lên làm giàu mà không nhận sự ưu đãi hỗ trợ dành cho hộ nghèo.

Về xã Phú Mỹ, huyện Mỹ Tú, chúng tôi được nghe kể nhiều về "vua lúa giống" Danh Khal ở ấp Ðai Úi. Từ một nông dân Khmer nghèo, sau gần mười năm mày mò, chịu khó học hỏi kinh nghiệm theo "nghiệp" sản xuất lúa giống, ông đã cung cấp hơn 80 tấn lúa giống mới chất lượng cao có giá trị xuất khẩu cho bà con trong huyện và các địa phương khác trong tỉnh sản xuất.

Giống lúa ghi đậm dấu ấn của ông là giống ST3 thích nghi vùng nước lợ Sóc Trăng cho năng suất từ 6 đến 6,2 tấn/ha, cao gần gấp hai lần so với các giống địa phương khác. Hiện nay "vua lúa giống" Danh Khal không chỉ nổi tiếng sản xuất lúa giống mà còn là người tiên phong ứng dụng chương trình sản xuất "ba giảm, ba tăng".

Cùng có chung khát vọng làm giàu như Danh Khal, chị Trà Thị Tựng (ấp Bưng Cốc), anh Sà Lượl (ấp Béc Tôn ) đã trả được sổ hộ nghèo cho Nhà nước. Theo lời chị Sết, năm 2004 trong chương trình hỗ trợ bò cho hộ Khmer nghèo chăn nuôi trả chậm của Nhà nước, chị và hàng trăm bà con khác được cho vay mười triệu đồng/hộ chăn nuôi hai con bò sinh sản. Qua bốn năm chăn nuôi, chị Sết đã hoàn lại nguồn vốn vay cho Nhà nước và hiện gia đình đã có đàn bò sáu con, các phương tiện sinh hoạt gia đình như xe hon-đa, ti-vi...

Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Lê Thị Thuyết đưa chúng tôi đi thăm làng nghề đan lát thủ công mỹ nghệ ở xã Tham Ðôn. Tại đây, hơn 300 phụ nữ là người Khmer đang ngồi đan khay đĩa, giỏ bẹ, thảm... bằng cây lục bình và dây chuối theo hợp đồng của Hợp tác xã TTCN Ngọc Bích. Chị Thuyết cho rằng, đây là một nghề mới được phát triển ở địa phương. Nghề này dễ làm, phù hợp với người phụ nữ, lại quán xuyến được việc nhà, quản lý nhắc nhở con cái học hành và tăng thu nhập cho gia đình.

Chị Thạch Thị Sa Ry ở ấp Bưng Chụm cho biết, ngoài việc trồng hẹ, nuôi bò sữa, chị tranh thủ lúc rảnh rỗi đan giỏ đệm xuất khẩu, trung bình mỗi tháng thu nhập khoảng 1,5 triệu đồng, cả năm được 18 triệu đồng, tính ra thu nhập từ nghề đan lát cao hơn trồng lúa nhiều. Và cũng nhờ nghề đan lát mà gia đình chị và nhiều hộ Khmer nghèo trong xóm đã thoát khỏi cảnh túng quẫn, vươn lên khá giả, mừng hơn là đã trả sổ hộ nghèo cho xã.

Trao đổi ý kiến với chúng tôi về những thành tựu kinh tế-xã hội vùng đồng bào Khmer, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Lâm Ren cho biết: Sau khi tái lập tỉnh (1992), Sóc Trăng có 54/105 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, được hưởng Chương trình 135, 134, chính sách hỗ trợ giá, trợ cước vận chuyển... Các chương trình, chính sách trên đã và đang phát huy hiệu quả.

Chỉ riêng Chương trình 135 đã xây dựng 464 công trình cơ sở hạ tầng như: đường giao thông, hệ thống thủy lợi, điện nước sinh hoạt, trạm y tế, trường học, chợ... với tổng số vốn đầu tư hơn 273 tỷ đồng. Ngoài ra, 17 trung tâm thuộc xã, tỉnh cũng đã xây dựng được 72 hạng mục cơ sở hạ tầng với số vốn đầu tư gần 39 tỷ đồng. Thực hiện chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, đến nay tỉnh đã hỗ trợ cho hơn 282 lượt đồng bào Khmer gồm các loại giống, cây trồng, vật nuôi.

Ðể giúp đồng bào Khmer chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mở rộng sản xuất, phát triển làng nghề truyền thống, năm 2008 các ngân hàng trong tỉnh đã cho vay hơn 140 tỷ đồng vốn ưu đãi cho gần 15 nghìn hộ Khmer phát triển kinh tế gia đình. Chương trình 134 tiếp tục đầu tư hơn 122 tỷ đồng hỗ trợ nhà ở, đất ở, nước sinh hoạt, đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho 7.032 lao động là người Khmer. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo giảm khá nhanh từ 42% (năm 2005) xuống còn dưới 30% (năm 2008).

Một trong những nguyên nhân làm giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Khmer là do Tỉnh ủy, UBND coi trọng việc lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế, đặc biệt là công tác chuyển giao và ứng dụng tốt các tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhất là các mô hình lúa tôm, lúa cá, nuôi bò sữa, trồng màu... Nhờ vậy, những năm gần đây đời sống đồng bào Khmer ngày càng được cải thiện đáng kể.

Tuy nhiên, điều đáng mừng nhất hiện nay là ở nhiều địa phương vùng đồng bào Khmer bà con đã thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu chuyển sang phương thức sản xuất mới, hiệu quả kinh tế cao hơn. Từ đó xuất hiện ngày càng nhiều những tấm gương điển hình không trông chờ vào sự ưu đãi của Nhà nước để hưởng lợi, mà luôn nêu cao ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực thoát cảnh đói nghèo và vươn lên làm giàu cho bản thân, gia đình.

Có được cuộc sống tốt đẹp hôm nay, đồng bào Khmer ở Sóc Trăng luôn biết ơn sự quan tâm giúp đỡ bằng những việc làm cụ thể, thiết thực của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và sự hỗ trợ của cộng đồng. Cuộc sống mới tạo cho bà con thêm niềm tin, động lực để phấn đấu vươn lên xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc trong những ngày Xuân về, Tết đến.

Ðỗ Nam

Đến Sóc Trăng vào mùa lễ hội

Sóc Trăng là một tỉnh có cộng đồng 3 dân tộc Kinh, Khmer và Hoa sinh sống chan hòa từ nhiều thế kỷ nên có nhiều nét đặc thù về sinh hoạt văn hóa lễ hội truyền thống ở địa phương. Những hoạt động, sinh hoạt văn hóa dân gian như lễ Đôn-ta, lễ Ok- om-bok của người Khmer Nam bộ; lễ Phước Biển của người Hoa... hoặc tết Chol chnam Thmay hay Tết Nguyên đán gần như diễn ra quanh năm trên địa bàn Sóc Trăng đã trở thành những lễ hội chung của cả ba dân tộc.

Đến Sóc Trăng, du khách sẽ gặp rất nhiều ngôi chùa Khmer với những hoa văn sắc sảo, uy nghiêm và cổ kính. Trong đó, nổi tiếng nhất là chùa Mahatup (chùa Dơi), di tích lịch sử cấp quốc gia có niên đại trên bốn trăm năm. Điều đặc biệt là trong vườn chùa có hàng chục ngàn con dơi quạ tụ về, trong đó đàn dơi ngựa quý hiếm nằm trong sách đỏ thế giới, tạo nên nét độc đáo riêng cho chùa. Các ngôi chùa Đất Sét, Khleng, Bốn Mặt... đều thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Sự giao thoa của những nền văn hóa Kinh - Hoa - Khmer thể hiện qua các hình rồng đắp trên các cột chính điện ở chùa Xà-Lôn (chùa Chén Kiểu) ở xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên. Chín đôi cột vừa là một cách lý giải khá lý thú về sự pha trộn của các tộc người vừa tượng trưng cho 9 nhánh sông ở Đồng bằng sông Cửu Long (9 con rồng chảy ra biển Đông) của người Việt. Về ẩm thực, món “bún nước lèo” của Sóc Trăng đoạt giải nhất ẩm thực tại Liên hoan du lịch Mekong là món ăn mang đậm tính giao thoa giữa các khẩu vị mắm, ngọt bùi của trứng cá, ruột cá lóc của người Khmer, người Việt và thêm thịt heo quay của người Hoa. Sóc Trăng còn có sản phẩm du lịch nổi tiếng là lạp xưởng và bánh pía, một sản phẩm kết tinh giữa văn hóa ẩm thực của người Hoa và Khmer.

Từ khi tách tỉnh (1992) đến nay, lượng khách du lịch đến Sóc Trăng tăng từ 8%-12% hàng năm. Ước tính trong năm 2007 là có trên 500.000 lượt khách đến Sóc Trăng, trong đó khách quốc tế chiếm 20%. Hàng loạt các dự án phục vụ du lịch đang được triển khai như khu du lịch Song Phụng, tuyến du lịch hạ lưu sông Hậu, khu du lịch Hồ Bể... Riêng 2 khu du lịch sinh thái Hồ Bể và Song Phụng mỗi nơi có diện tích từ 100 ha đến 300 ha.

Trong định hướng phát triển của ngành du lịch ở Sóc Trăng hình thành 6 loại gồm du lịch văn hóa lễ hội, tham quan di tích lịch sử, vui chơi giải trí, ẩm thực, tham quan làng nghề; du lịch sinh thái sông nước, cù lao, vườn cây ăn trái; du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, nhà vườn, du lịch sông biển; du lịch làng nghề truyền thống; du lịch ven biển, rừng ngập mặn và du lịch thể thao... Hiện nay, tại thị xã Sóc Trăng số khách sạn đã tăng 4,5 lần so với năm 2000, trong đó có 20 khách sạn từ 1-3 sao với 552 phòng đạt tiêu chuẩn và công suất sử dụng bình quân trên 60%. Dự kiến đến năm 2015 sẽ có thêm 6 khách sạn 3 sao đưa vào sử dụng với 820 phòng và 1.250 giường đạt chuẩn.

Trong các lễ hội, ấn tượng nhất, hoành tráng nhất và cũng là “thương hiệu” của du lịch Sóc Trăng chính là Lễ hội Ok- om-bok truyền thống với cuộc đua ghe ngo của người Khmer (vào ngày 15 tháng 10 âm lịch) hàng năm. Năm nào cũng vậy, cuộc đua qui tụ hàng trăm vận động viên các đội nam nữ người dân tộc Khmer ở TP Sóc Trăng, 8 huyện, các chùa và các tỉnh bạn thi tài. Hiện nay lễ hội này đã được nâng cấp thành lễ hội cấp quốc gia, tiến tới sẽ có các đội ghe quốc tế trong khu vực tham dự như Campuchia, Thái Lan, Indonesia, Malaysia. Ở Sóc Trăng, còn có các lễ hội sông nước miệt vườn mùng năm tháng năm ở cồn Mỹ Phước, huyện Kế Sách; lễ hội cúng Phước Biển ở huyện Vĩnh Châu... Ngành du lịch đã khôi phục một số làng nghề truyền thống của đồng bào Khmer như đan lác, dệt chiếu, chạm khắc gỗ, mây tre lá, mè láo, bánh phồng tôm, lạp xưởng... và các hoạt động dân gian. Sóc Trăng sẽ mở ra tuyến du lịch sông biển đến đảo Phú Quốc với hành trình đi vòng qua mũi Cà Mau, nơi tận cùng của đất nước, ở biển Đông và trên sông Hậu sẽ có các loại hình du lịch giải trí, thể thao đa dạng hấp dẫn như nhảy dù, lướt ván, mô tô nước...

Ngành du lịch tỉnh Sóc Trăng đang phát huy các loại hình văn hóa, lễ hội truyền thống, đưa những hoạt động này trở thành sự kiện trong nước và khu vực để quảng bá hình ảnh tỉnh Sóc Trăng.

NGUYÊN THANH

Sóc Trăng cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế


Ngày 25/2, làm việc với lãnh đạo chủ chốt tỉnh Sóc Trăng, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đề nghị tỉnh Sóc Trăng cần tập trung đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Dù là tỉnh thuần nông, nhưng tỷ trọng nông nghiệp, thủy sản chiếm trên 50% cơ cấu kinh tế như hiện nay là khá cao.


Chủ tịch nước nhấn mạnh tỉnh cần phát huy tối đa thế mạnh của cơ sở nghiên cứu, lai tạo giống lúa mới để ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp; tiếp tục đẩy mạnh nuôi tôm theo hướng công nghiệp, qua đó thu hẹp bớt diện tích nuôi trồng nhưng vẫn bảo đảm tăng về sản lượng, giá trị hàng hóa.


Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đến thăm
các sư sãi chùa Dơi. (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)

Đồng chí đánh giá Sóc Trăng tới đây rất thuận lợi về thu hút đầu tư, nhờ có hạ tầng giao thông thuận tiện khi sân bay Trà Nóc, cầu Cần Thơ hoàn thành. Vì vậy, ngay từ bây giờ, tỉnh cần tích cực cải thiện môi trường đầu tư, chuẩn bị tốt hạ tầng để thu hút các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước.

Về những hạn chế, yếu kém của Sóc Trăng, Chủ tịch nước cho rằng, khó khăn hiện nay là quy mô kinh tế của tỉnh còn nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu. GDP bình quân đầu người mới bằng khoảng 3/4 mức bình quân cả nước. Vì vậy, bên cạnh nỗ lực của địa phương, Chủ tịch nước đề nghị các bộ, ngành Trung ương tích cực hỗ trợ Sóc Trăng trong một số dự án lớn như cảng nước sâu, khu kinh tế biển.

Chủ tịch nước lưu ý tỉnh Sóc Trăng cần quan tâm hơn nữa bảo đảm ổn định đời sống, các điều kiện hưởng thụ văn hóa, xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là đối với đồng bào Khmer. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Khmer ở Sóc Trăng còn cao.

Đến thăm Hội đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng, chùa Mahatup (chùa Dơi), chùa Khleang Sóc Trăng và trường Bổ túc văn hóa trung cấp Pali Nam Bộ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết hoan nghênh Hội đoàn kết sư sãi yêu nước và các sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer đã tích cực tổ chức nhiều hoạt động củng cố tình đoàn kết giữa người có đạo và người không theo đạo, giữa đồng bào Khmer và các dân tộc khác ở tỉnh. Đặc biệt, Hội đã tích cực đấu tranh, ngăn chặn các luận điệu kích động đồng bào Khmer chống Nhà nước, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết vui mừng khi thấy cuộc sống của bà con Khmer ở Sóc Trăng ngày càng được nâng cao. Các cấp chính quyền quan tâm, tạo thuận lợi cho sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hỗ trợ xây dựng nhiều công trình thờ tự. Các chùa Phật giáo Nam tông Khmer thường xuyên tổ chức những chương trình hướng dẫn đồng bào nắm bắt khoa học kỹ thuật nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong lao động sản xuất; động viên nhau trong cuộc sống, giúp nhau xóa đói giảm nghèo./.

(TTXVN)

Tri Tôn: chuẩn bị đăng cai lễ hội văn hoá thể thao và du lịch dân tộc Khmer tỉnh An Giang lần thứ VII/2009

Đẩy mạnh tuyên truyền cổ động trực quan tạo khí thế sôi nổi nhân dịp tết cổ truyền CholChnamThmay của đồng bào dân tộc Khmer và đăng cai lễ hội văn hoá thể thao và du lịch dân tộc Khmer tỉnh An Giang lần thứ VII/2009. Trong những ngày qua, trung tâm VHTT huyện Tri Tôn tổ chức kẻ vẽ 50 băng rol song ngữ Việt – Khmer treo tại các trục đường chính trong nội ô thị trấn Tri Tôn và các xã lân cận. vẽ 72 m2 panô dựng 2 cụm tập trung tại khu dân cư. Ngoài ra trung tâm VHTT huyện sẽ tổ chức các khâu trang trí sân khấu, dựng 3 cổng chào, 1 xe hoa, 1 xe tuyên truyền cổ động và dựng 300 cờ các loại. Tuyển chọn 2 đội văn nghệ - thể thao tham dự lễ hội với trên 50 diễn viên, nghệ nhân và nhạc công.

Được biết, ngày hội văn hoá thể thao và du lịch dân tộc Khmer tỉnh An Giang lần thứ VII/2009 sẽ được diễn ra trong 4 ngày từ ngày từ ngày 10 đến 13/4/2009 với các nội dung như: triễn lãm một số hình ảnh về cộng đồng người Khmer An Giang. Liên hoan văn hoá ẩm thực truyền thống, chương trình văn hoá nghệ thuật, diễu hành xe ngựa, múa cộng đồng, các hoạt động thể thao và các trò chơi dân gian như: đẩy gậy, kéo co, đội cà ôm lấy nước, chạy việt dã, bóng đá, đua bò… dự kiến sẽ thu hút 9 đơn vị huyện thị, trường học và lực lượng vũ trang tham dự.

Anh Tuấn

Tri Tôn tổng kết ngành văn hoá


Huyện Tri Tôn vừa tổ chức tổng kết hoạt động lĩnh vực văn hoá thông tin năm 2008 và giao chỉ tiêu nhiệm vụ năm 2009.

Năm 2008, hoạt động văn hoá thông tin huyện Tri Tôn có nhiều khởi sắc. Đội thông tin lưu động dàn dựng 6 chương trình văn nghệ việt khmer phục vụ 36 buổi tại các xã thị trấn. Nhà truyền thống mở 10 đợt triển lãm tranh ảnh chủ đề về đảng, bác Hồ, bác Tôn, anh bộ đội cụ Hồ, thành tựu kinh tế văn hoá xã hội của huyện. Xây mới và đưa vào phục vụ bạn đọc thư viện huyện Tri Tôn với kinh phí 500 triệu đồng. Riêng về quản lý hoạt động kinh doanh, trong năm đội 814 huyện mở 12 đợt kiểm tra văn hoá và đã xử phạt gần 10 trường hợp vi phạm. Về bưu chính viễn thông toàn huyện 6.587 thuê bao điện thoại cố định, 25 điểm truy cập internet, 22 đại lý bưu điện và bưu điện văn hoá. Trong năm trung tâm thể dục thể thao tổ chức được 40 giải thể thao cấp huyện và huấn luyện 17 đội tham gia thi đấu cấp tỉnh giành nhiều thành tích cao. Đến nay tỷ lệ người dân tập thể dục thường xuyên là 25%. Đài truyền thanh huyện hoạt động 5,5 giờ mỗi ngày với 2 chương trình tiếng việt và khmer, trạm truyền thanh 12/15 xã đang hoạt động kịp thời thông tin tuyên truyền, nêu gương điển hình và nhiều mô hình hiệu quả để nhân dân áp dụng.
Năm 2009 bên cạnh đẩy mạng xã hội hoá trong các lĩnh vực văn hoá, thể thao du lịch, thông tin truyền thông, đầu tư trang thiết bị phục vụ tốt công tác này. Huyện sẽ triển khai thực hịên việc hiện đại hoá dịch vụ bưu chính, viễn thông, phát thanh truyền hình, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động. Đẩy mạnh thể dục quần chúng, nâng chất hoạt động các câu lạc bộ, nhà văn hoá, phong trào văn nghệ, đào tạo năng khiếu có trọng điểm. Trong năm nay huyện Tri Tôn tiến hành đại hội thể thao cấp huyện, xã thị trấn. Đặc biệt là đăng tổ chức lễ hội văn hoá thể thao du lịch khmer tỉnh AG vào trung tuần tháng 4 tới.

Châu Phong

Lễ hội Cầu an gắn với tín ngưỡng tôn giáo

Xưa kia, khi chưa có tôn giáo, người Khmer chỉ nương tựa vào các vị thần thiên nhiên bảo hộ. Mỗi năm, khi tổ chức cúng và khấn vái đến các vị thần ấy, bà con nông dân đều đọc hay tụng bài khấn vái theo ý của mình. Nhưng trong lời khấn vái ấy cùng thống nhất chung một nội dung là cầu mong cho cuộc sống bình an, đất nước thanh bình, mưa thuận gió hoà và vụ lúa được trúng mùa bội thu… Từ khi có Phật giáo tiểu thừa hệ phái
Nam tông du nhập vào, được người Khmer tiếp đón rất nồng nhiệt. Hiện nay, đạo này là tôn giáo chính thức của người Khmer ở khu vực tây
Nam bộ, trong đó có tỉnh Vĩnh Long. Từ đó đến nay, phong tục tổ chức đám lễ đều gắn liền với tôn giáo. Nếu không kể những ngày đi chùa lễ bái Tam bảo hàng tháng thì hội lễ tôn giáo có các lễ hội định kỳ là: Lễ Phật Đản, lễ Rằm tháng giêng, lễ nhập hạ, lễ xuất hạ, lễ đặt cơm vắt, lễ Dâng y…Ngoài việc tổ chức lễ theo nghi thức tôn giáo, đồng bào Khmer còn tổ chức các lễ hội theo phong tục truyền thống như: Tết Chôl Chnam Thmây, lễ Sên Đôn ta, lễ hội Ok om bok, lễ hội Cầu an. Lễ hội Cầu an là một trong những lễ mang tính tiêu biểu và đặc thù nhất so với các lễ hội khác, mỗi nghi thức tổ chức đều gắn liền với tín ngưỡng tôn giáo. Cụ thể là trong các ngày tổ chức lễ, từ sáng, trưa đến chiều và cả ban đêm đều có tổ chức tụng kinh như: lễ bái tam bảo, lễ thỉnh các vị chư tăng truyền giới, tín đồ dâng cơm cho nhà sư để cầu an, cầu siêu và hồi hướng phước cho các vị thần thánh và các ân nhân quyến thuộc đã qua cố… Theo quan niệm của người Khmer, bất cứ việc gì, dù thành công hay thất bại, ngoài các vị thần linh phù hộ, còn phải có đức Phật hỗ trợ. Điều này thể hiện qua các yếu tố sau đây:
a. Lễ cầu mưa:Theo quan niệm của bà con Khmer, năm nào bị hạn hán kéo dài, việc gieo cấy của nông dân bị chậm trễ hoặc thất mùa trong năm, tín đồ phải mời khoảng 10 nhà sư thay phiên nhau ra giữa cánh đồng, đứng phơi nắng tụng kinh cầu mưa (xom tức phliêng) để động lòng trời. Trước mắt, các vị sư, bà con đào một hố sâu, hoặc để một chậu, thau khô, trong hố và chậu khô có thả cá lóc. Việc này nhằm làm cho trời “động lòng” để đổ mưa xuống cho nông dân làm ruộng. Do vấn đề thuỷ lợi là cực kì quan trọng đối với người nông dân trồng lúa nước ở nhiều dạng khác nhau. Từ phong tục nêu trên, người Khmer ở Vĩnh Long vẫn duy trì và phục hồi các nghi thức này cho đến ngày nay. Con cá lóc nằm trong cái thau khô để ông trời thấy con cá cũng như nông dân đang đau khổ, cầu mong có nước mưa làm ruộng, nên sẽ ban nước mưa xuống trần gian. Nghi thức này dựa theo sự tích có nguồn gốc từ Phật giáo, được trích trong kinh (Sô phon -tô). Sự tích nói con cá lóc là tiền thân của Đức Phật, trải qua các kiếp luân hồi, sống trong một cái hồ thật lớn tên là Anot - tas. Từ khi ngài sinh ra cho đến lớn, không bao giờ sát sinh, chỉ biết ăn rong rêu và cỏ mục để sống. Qua thời gian hạn hán 12 năm, mọi nơi đều khô cạn kể cả hồ Anot-tas, mọi sinh vật như tôm, tép, cá lớn, cá bé đều chết, muôn vàn tai hoạ đưa đến rất khủng khiếp. Cá lóc suy ngẫm: Ta đây, từ sinh ra đến giờ không làm hại ai, chỉ biết trầm tư mặc niệm, tại sao trời nỡ sát hại muôn loài và sát hại cả bản thân ta. Nghĩ vậy cá bèn kêu trời: “Thưa Ngọc hoàng, Ngọc hoàng có thấy thế gian đau khổ chăng? Ta đây 12 năm tu tâm nhập thiền hầu kiếp sau đắc đạo cứu chúng sinh. Vậy giờ đây ta kêu gọi Ngài hãy cứu muôn loài dưới thế gian này bằng cách ban cho những giọt mưa lành”. Tiếng kêu ấy động đến trời, Ngọc hoàng nhìn xuống thấy con cá lóc đúng là hiện thân của Đức Phật tương lai, bèn ban mưa xuống cứu rỗi cho thế gian và muôn loài. Qua những nghi lễ trên, chúng ta có thể nói lễ hội Cầu an vừa mang hình thức tín ngưỡng dân gian vừa là tín ngưỡng tôn giáo, mang đặc trưng của lễ nghi nông nghiệp. b. Nghi thức An vị tượng Phật: Hàng năm, mỗi khi diễn ra lễ hội Cầu an, Ban tổ chức lễ đều chuẩn bị sẵn áo cà sa, 1 cây dù, 1 bình bát và các lễ vật gồm: bình bông và nhang đèn, còn bổn đạo Phật tử thì lo tắm rửa và lau chùi tượng hoặc tranh đức Phật của nhà mình cho sạch sẽ, đem đến nơi tổ chức để làm lễ an vị tượng Phật. Nghi thức này nhằm tạo điều kiện gom tranh và tượng Phật lại, sắp đặt nơi trang trọng nhất để bà con đốt nhang niệm Phật. Sau đó mời 1 vị Achar đại diện kể lại tiểu sử của đức Phật Thích ca mâu ni từ khi mới sinh đến khi nhập niết bàn. Câu chuyện kể nhằm mục đích làm cho bà con Khmer thấy rõ cuộc đời và sự nghiệp của Ngài, dù sinh ra và lớn lên trong dòng họ cổ đàm (nhà vua) ở hoàng cung, nhưng Ngài đã ra đi tìm cách sống rất giản dị. Đặc biệt là Ngài đã mang theo bình bát đi khất thực từ nhà này đến nhà khác để chia sẻ với nông dân nghèo…Trong lễ này, ban tổ chức còn thỉnh chư tăng tụng kinh phúc chúc và cầu nguyện, ý nghĩa là làm cho tranh và tượng Phật càng thêm linh thiêng, bảo hộ và chăm sóc gia đình được nhiều điều tốt lành hơn. c. Nghi thức đặt cơm vào bình bát cho nhà sư: Ngày nay, tục lễ mời các vị sư ra đứng phơi nắng giữa đồng ruộng để tụng kinh cầu mưa không còn nữa. Thay vào đó, Ban tổ chức và bà con Khmer mời từ 40 đến 50 vị sư mang theo bình bát đựng cơm, đứng xếp hàng xung quanh trại, nơi tổ chức lễ hội Cầu an để tín đồ cúng dường; trong đó một người chỉ được phép đặt vào bình bát 1 muỗng cơm và dâng một số ít tiền. Khi đi xung quanh một vòng trại, bình bát các vị sư đều có đầy cơm. Việc tổ chức đặt cơm vào bình bát cho nhà sư cũng biểu hiện lên sự sung túc, với ý muốn lúa được trúng mùa bội thu trong năm. Đây là các yếu tố cho ta thấy lễ hội Cầu an gắn liền với tín ngưỡng tôn giáo.