Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2009
LẮP ĐẶT ĂNG-TEN PARAPOL?
Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2009
Ðồng bào Khmer ở Sóc Trăng "trả sổ nghèo" đón Tết
Đến Sóc Trăng vào mùa lễ hội
Sóc Trăng là một tỉnh có cộng đồng 3 dân tộc Kinh, Khmer và Hoa sinh sống chan hòa từ nhiều thế kỷ nên có nhiều nét đặc thù về sinh hoạt văn hóa lễ hội truyền thống ở địa phương. Những hoạt động, sinh hoạt văn hóa dân gian như lễ Đôn-ta, lễ Ok- om-bok của người Khmer Nam bộ; lễ Phước Biển của người Hoa... hoặc tết Chol chnam Thmay hay Tết Nguyên đán gần như diễn ra quanh năm trên địa bàn Sóc Trăng đã trở thành những lễ hội chung của cả ba dân tộc.
Đến Sóc Trăng, du khách sẽ gặp rất nhiều ngôi chùa Khmer với những hoa văn sắc sảo, uy nghiêm và cổ kính. Trong đó, nổi tiếng nhất là chùa Mahatup (chùa Dơi), di tích lịch sử cấp quốc gia có niên đại trên bốn trăm năm. Điều đặc biệt là trong vườn chùa có hàng chục ngàn con dơi quạ tụ về, trong đó đàn dơi ngựa quý hiếm nằm trong sách đỏ thế giới, tạo nên nét độc đáo riêng cho chùa. Các ngôi chùa Đất Sét, Khleng, Bốn Mặt... đều thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Sự giao thoa của những nền văn hóa Kinh - Hoa - Khmer thể hiện qua các hình rồng đắp trên các cột chính điện ở chùa Xà-Lôn (chùa Chén Kiểu) ở xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên. Chín đôi cột vừa là một cách lý giải khá lý thú về sự pha trộn của các tộc người vừa tượng trưng cho 9 nhánh sông ở Đồng bằng sông Cửu Long (9 con rồng chảy ra biển Đông) của người Việt. Về ẩm thực, món “bún nước lèo” của Sóc Trăng đoạt giải nhất ẩm thực tại Liên hoan du lịch Mekong là món ăn mang đậm tính giao thoa giữa các khẩu vị mắm, ngọt bùi của trứng cá, ruột cá lóc của người Khmer, người Việt và thêm thịt heo quay của người Hoa. Sóc Trăng còn có sản phẩm du lịch nổi tiếng là lạp xưởng và bánh pía, một sản phẩm kết tinh giữa văn hóa ẩm thực của người Hoa và Khmer.
| Từ khi tách tỉnh (1992) đến nay, lượng khách du lịch đến Sóc Trăng tăng từ 8%-12% hàng năm. Ước tính trong năm 2007 là có trên 500.000 lượt khách đến Sóc Trăng, trong đó khách quốc tế chiếm 20%. Hàng loạt các dự án phục vụ du lịch đang được triển khai như khu du lịch Song Phụng, tuyến du lịch hạ lưu sông Hậu, khu du lịch Hồ Bể... Riêng 2 khu du lịch sinh thái Hồ Bể và Song Phụng mỗi nơi có diện tích từ 100 ha đến 300 ha. |
Trong các lễ hội, ấn tượng nhất, hoành tráng nhất và cũng là “thương hiệu” của du lịch Sóc Trăng chính là Lễ hội Ok- om-bok truyền thống với cuộc đua ghe ngo của người Khmer (vào ngày 15 tháng 10 âm lịch) hàng năm. Năm nào cũng vậy, cuộc đua qui tụ hàng trăm vận động viên các đội nam nữ người dân tộc Khmer ở TP Sóc Trăng, 8 huyện, các chùa và các tỉnh bạn thi tài. Hiện nay lễ hội này đã được nâng cấp thành lễ hội cấp quốc gia, tiến tới sẽ có các đội ghe quốc tế trong khu vực tham dự như Campuchia, Thái Lan, Indonesia, Malaysia. Ở Sóc Trăng, còn có các lễ hội sông nước miệt vườn mùng năm tháng năm ở cồn Mỹ Phước, huyện Kế Sách; lễ hội cúng Phước Biển ở huyện Vĩnh Châu... Ngành du lịch đã khôi phục một số làng nghề truyền thống của đồng bào Khmer như đan lác, dệt chiếu, chạm khắc gỗ, mây tre lá, mè láo, bánh phồng tôm, lạp xưởng... và các hoạt động dân gian. Sóc Trăng sẽ mở ra tuyến du lịch sông biển đến đảo Phú Quốc với hành trình đi vòng qua mũi Cà Mau, nơi tận cùng của đất nước, ở biển Đông và trên sông Hậu sẽ có các loại hình du lịch giải trí, thể thao đa dạng hấp dẫn như nhảy dù, lướt ván, mô tô nước...
Ngành du lịch tỉnh Sóc Trăng đang phát huy các loại hình văn hóa, lễ hội truyền thống, đưa những hoạt động này trở thành sự kiện trong nước và khu vực để quảng bá hình ảnh tỉnh Sóc Trăng.
NGUYÊN THANH
Sóc Trăng cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tri Tôn: chuẩn bị đăng cai lễ hội văn hoá thể thao và du lịch dân tộc Khmer tỉnh An Giang lần thứ VII/2009
Đẩy mạnh tuyên truyền cổ động trực quan tạo khí thế sôi nổi nhân dịp tết cổ truyền CholChnamThmay của đồng bào dân tộc Khmer và đăng cai lễ hội văn hoá thể thao và du lịch dân tộc Khmer tỉnh An Giang lần thứ VII/2009. Trong những ngày qua, trung tâm VHTT huyện Tri Tôn tổ chức kẻ vẽ 50 băng rol song ngữ Việt – Khmer treo tại các trục đường chính trong nội ô thị trấn Tri Tôn và các xã lân cận. vẽ 72 m2 panô dựng 2 cụm tập trung tại khu dân cư. Ngoài ra trung tâm VHTT huyện sẽ tổ chức các khâu trang trí sân khấu, dựng 3 cổng chào, 1 xe hoa, 1 xe tuyên truyền cổ động và dựng 300 cờ các loại. Tuyển chọn 2 đội văn nghệ - thể thao tham dự lễ hội với trên 50 diễn viên, nghệ nhân và nhạc công.
Được biết, ngày hội văn hoá thể thao và du lịch dân tộc Khmer tỉnh An Giang lần thứ VII/2009 sẽ được diễn ra trong 4 ngày từ ngày từ ngày 10 đến 13/4/2009 với các nội dung như: triễn lãm một số hình ảnh về cộng đồng người Khmer An Giang. Liên hoan văn hoá ẩm thực truyền thống, chương trình văn hoá nghệ thuật, diễu hành xe ngựa, múa cộng đồng, các hoạt động thể thao và các trò chơi dân gian như: đẩy gậy, kéo co, đội cà ôm lấy nước, chạy việt dã, bóng đá, đua bò… dự kiến sẽ thu hút 9 đơn vị huyện thị, trường học và lực lượng vũ trang tham dự.
Anh Tuấn
Tri Tôn tổng kết ngành văn hoá
| Huyện Tri Tôn vừa tổ chức tổng kết hoạt động lĩnh vực văn hoá thông tin năm 2008 và giao chỉ tiêu nhiệm vụ năm 2009.
Năm 2008, hoạt động văn hoá thông tin huyện Tri Tôn có nhiều khởi sắc. Đội thông tin lưu động dàn dựng 6 chương trình văn nghệ việt khmer phục vụ 36 buổi tại các xã thị trấn. Nhà truyền thống mở 10 đợt triển lãm tranh ảnh chủ đề về đảng, bác Hồ, bác Tôn, anh bộ đội cụ Hồ, thành tựu kinh tế văn hoá xã hội của huyện. Xây mới và đưa vào phục vụ bạn đọc thư viện huyện Tri Tôn với kinh phí 500 triệu đồng. Riêng về quản lý hoạt động kinh doanh, trong năm đội 814 huyện mở 12 đợt kiểm tra văn hoá và đã xử phạt gần 10 trường hợp vi phạm. Về bưu chính viễn thông toàn huyện 6.587 thuê bao điện thoại cố định, 25 điểm truy cập internet, 22 đại lý bưu điện và bưu điện văn hoá. Trong năm trung tâm thể dục thể thao tổ chức được 40 giải thể thao cấp huyện và huấn luyện 17 đội tham gia thi đấu cấp tỉnh giành nhiều thành tích cao. Đến nay tỷ lệ người dân tập thể dục thường xuyên là 25%. Đài truyền thanh huyện hoạt động 5,5 giờ mỗi ngày với 2 chương trình tiếng việt và khmer, trạm truyền thanh 12/15 xã đang hoạt động kịp thời thông tin tuyên truyền, nêu gương điển hình và nhiều mô hình hiệu quả để nhân dân áp dụng. Châu Phong |
Lễ hội Cầu an gắn với tín ngưỡng tôn giáo
Xưa kia, khi chưa có tôn giáo, người Khmer chỉ nương tựa vào các vị thần thiên nhiên bảo hộ. Mỗi năm, khi tổ chức cúng và khấn vái đến các vị thần ấy, bà con nông dân đều đọc hay tụng bài khấn vái theo ý của mình. Nhưng trong lời khấn vái ấy cùng thống nhất chung một nội dung là cầu mong cho cuộc sống bình an, đất nước thanh bình, mưa thuận gió hoà và vụ lúa được trúng mùa bội thu… Từ khi có Phật giáo tiểu thừa hệ phái
Nam tông du nhập vào, được người Khmer tiếp đón rất nồng nhiệt. Hiện nay, đạo này là tôn giáo chính thức của người Khmer ở khu vực tây
Nam bộ, trong đó có tỉnh Vĩnh Long. Từ đó đến nay, phong tục tổ chức đám lễ đều gắn liền với tôn giáo. Nếu không kể những ngày đi chùa lễ bái Tam bảo hàng tháng thì hội lễ tôn giáo có các lễ hội định kỳ là: Lễ Phật Đản, lễ Rằm tháng giêng, lễ nhập hạ, lễ xuất hạ, lễ đặt cơm vắt, lễ Dâng y…Ngoài việc tổ chức lễ theo nghi thức tôn giáo, đồng bào Khmer còn tổ chức các lễ hội theo phong tục truyền thống như: Tết Chôl Chnam Thmây, lễ Sên Đôn ta, lễ hội Ok om bok, lễ hội Cầu an. Lễ hội Cầu an là một trong những lễ mang tính tiêu biểu và đặc thù nhất so với các lễ hội khác, mỗi nghi thức tổ chức đều gắn liền với tín ngưỡng tôn giáo. Cụ thể là trong các ngày tổ chức lễ, từ sáng, trưa đến chiều và cả ban đêm đều có tổ chức tụng kinh như: lễ bái tam bảo, lễ thỉnh các vị chư tăng truyền giới, tín đồ dâng cơm cho nhà sư để cầu an, cầu siêu và hồi hướng phước cho các vị thần thánh và các ân nhân quyến thuộc đã qua cố… Theo quan niệm của người Khmer, bất cứ việc gì, dù thành công hay thất bại, ngoài các vị thần linh phù hộ, còn phải có đức Phật hỗ trợ. Điều này thể hiện qua các yếu tố sau đây:a. Lễ cầu mưa:Theo quan niệm của bà con Khmer, năm nào bị hạn hán kéo dài, việc gieo cấy của nông dân bị chậm trễ hoặc thất mùa trong năm, tín đồ phải mời khoảng 10 nhà sư thay phiên nhau ra giữa cánh đồng, đứng phơi nắng tụng kinh cầu mưa (xom tức phliêng) để động lòng trời. Trước mắt, các vị sư, bà con đào một hố sâu, hoặc để một chậu, thau khô, trong hố và chậu khô có thả cá lóc. Việc này nhằm làm cho trời “động lòng” để đổ mưa xuống cho nông dân làm ruộng. Do vấn đề thuỷ lợi là cực kì quan trọng đối với người nông dân trồng lúa nước ở nhiều dạng khác nhau. Từ phong tục nêu trên, người Khmer ở Vĩnh Long vẫn duy trì và phục hồi các nghi thức này cho đến ngày nay. Con cá lóc nằm trong cái thau khô để ông trời thấy con cá cũng như nông dân đang đau khổ, cầu mong có nước mưa làm ruộng, nên sẽ ban nước mưa xuống trần gian. Nghi thức này dựa theo sự tích có nguồn gốc từ Phật giáo, được trích trong kinh (Sô phon -tô). Sự tích nói con cá lóc là tiền thân của Đức Phật, trải qua các kiếp luân hồi, sống trong một cái hồ thật lớn tên là Anot - tas. Từ khi ngài sinh ra cho đến lớn, không bao giờ sát sinh, chỉ biết ăn rong rêu và cỏ mục để sống. Qua thời gian hạn hán 12 năm, mọi nơi đều khô cạn kể cả hồ Anot-tas, mọi sinh vật như tôm, tép, cá lớn, cá bé đều chết, muôn vàn tai hoạ đưa đến rất khủng khiếp. Cá lóc suy ngẫm: Ta đây, từ sinh ra đến giờ không làm hại ai, chỉ biết trầm tư mặc niệm, tại sao trời nỡ sát hại muôn loài và sát hại cả bản thân ta. Nghĩ vậy cá bèn kêu trời: “Thưa Ngọc hoàng, Ngọc hoàng có thấy thế gian đau khổ chăng? Ta đây 12 năm tu tâm nhập thiền hầu kiếp sau đắc đạo cứu chúng sinh. Vậy giờ đây ta kêu gọi Ngài hãy cứu muôn loài dưới thế gian này bằng cách ban cho những giọt mưa lành”. Tiếng kêu ấy động đến trời, Ngọc hoàng nhìn xuống thấy con cá lóc đúng là hiện thân của Đức Phật tương lai, bèn ban mưa xuống cứu rỗi cho thế gian và muôn loài. Qua những nghi lễ trên, chúng ta có thể nói lễ hội Cầu an vừa mang hình thức tín ngưỡng dân gian vừa là tín ngưỡng tôn giáo, mang đặc trưng của lễ nghi nông nghiệp. b. Nghi thức An vị tượng Phật: Hàng năm, mỗi khi diễn ra lễ hội Cầu an, Ban tổ chức lễ đều chuẩn bị sẵn áo cà sa, 1 cây dù, 1 bình bát và các lễ vật gồm: bình bông và nhang đèn, còn bổn đạo Phật tử thì lo tắm rửa và lau chùi tượng hoặc tranh đức Phật của nhà mình cho sạch sẽ, đem đến nơi tổ chức để làm lễ an vị tượng Phật. Nghi thức này nhằm tạo điều kiện gom tranh và tượng Phật lại, sắp đặt nơi trang trọng nhất để bà con đốt nhang niệm Phật. Sau đó mời 1 vị Achar đại diện kể lại tiểu sử của đức Phật Thích ca mâu ni từ khi mới sinh đến khi nhập niết bàn. Câu chuyện kể nhằm mục đích làm cho bà con Khmer thấy rõ cuộc đời và sự nghiệp của Ngài, dù sinh ra và lớn lên trong dòng họ cổ đàm (nhà vua) ở hoàng cung, nhưng Ngài đã ra đi tìm cách sống rất giản dị. Đặc biệt là Ngài đã mang theo bình bát đi khất thực từ nhà này đến nhà khác để chia sẻ với nông dân nghèo…Trong lễ này, ban tổ chức còn thỉnh chư tăng tụng kinh phúc chúc và cầu nguyện, ý nghĩa là làm cho tranh và tượng Phật càng thêm linh thiêng, bảo hộ và chăm sóc gia đình được nhiều điều tốt lành hơn. c. Nghi thức đặt cơm vào bình bát cho nhà sư: Ngày nay, tục lễ mời các vị sư ra đứng phơi nắng giữa đồng ruộng để tụng kinh cầu mưa không còn nữa. Thay vào đó, Ban tổ chức và bà con Khmer mời từ 40 đến 50 vị sư mang theo bình bát đựng cơm, đứng xếp hàng xung quanh trại, nơi tổ chức lễ hội Cầu an để tín đồ cúng dường; trong đó một người chỉ được phép đặt vào bình bát 1 muỗng cơm và dâng một số ít tiền. Khi đi xung quanh một vòng trại, bình bát các vị sư đều có đầy cơm. Việc tổ chức đặt cơm vào bình bát cho nhà sư cũng biểu hiện lên sự sung túc, với ý muốn lúa được trúng mùa bội thu trong năm. Đây là các yếu tố cho ta thấy lễ hội Cầu an gắn liền với tín ngưỡng tôn giáo.

