Thứ Tư, 8 tháng 10, 2008

Vĩnh Long: Một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân

(VinhLong Portal) - Quyết định sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 1 Quyết định 289/QĐ-TTg, về việc ban hành Một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân.

Ngày 18/3/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 289/QĐ-TTg, về việc ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện còn một vài điểm chưa thống nhất trong thực hiện, nên ngày 25/9/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1366/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 1 Quyết định 289/QĐ-TTg, về việc ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân, như sau:
"1. Cấp bằng tiền tương đương với 05 lít dầu hỏa/năm (dầu thắp sáng) cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sác và hộ nghèo chưa sử dụng điện lưới (bao gầm các hộ ở nơi chưa có điện lưới và những nơi có điện lưới đi qua nhưng chưa có điều kiện sử dụng điện lưới)."
N.H.N

Vĩnh Long: Tổ chức triển khai thực hiện một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số

(VinhLong Portal) - Thực hiện Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg ngày 09/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2008 - 2010 và Công văn số 886/UBDT-CSDT ngày 03/10/2008 của Ủy ban Dân tộc về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg ngày 09/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ

Để hỗ trợ trực tiếp những hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn thực sự có nhu cầu về đất sản xuất và đào tạo nghề, tạo điều kiện cho các hộ phát triển sản xuất, cải thiện cuộc sống ổn định, ngày 08/10/2008, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành văn bản giao Trưởng ban Dân tộc chủ trì kết hợp cùng Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội và Giám đốc Sở Kế hoạch - Đầu tư tham mưu UBND tỉnh căn cứ nội dung Công văn số 886/UBDT-CSDT ngày 03/10/2008 của Ủy ban Dân tộc về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg ngày 09/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ để xây dựng Đề án hoặc kế hoạch thực hiện theo đúng quy định và đạt hiệu quả, trình Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt thực hiện tổ chức thành lập tổ công tác khảo sát, rà soát hoàn cảnh từng hộ cụ thể, xác định xem hộ nào thật sự có nhu cầu đất sản xuất (có đất nhưng vì hoàn cảnh, đã cầm cố cho người khác, nay có nhu cầu chuộc đất), hộ nào không có đất, nhưng có nhu cầu đào tạo nghề và giải quyết việc làm....Sau đó lập biên bản, tổng hợp các trường hợp trên thành danh sách và đề xuất ý kiến trình Ban Chỉ đạo xem xét quyết định.
N.H.N

Tóm tắt nội dung Quyết định 74/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Ngày 09/6/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 74/2008/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2008 - 2010.
Mục tiêu là đến năm 2010, toàn bộ số hộ đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng đồng bằng sông Cửu Long có đất ở; trên 80% số hộ trong diện nghèo, đời sống khó khăn có đất sản xuất, có việc làm, tạo thu nhập ổn định; trên 50% lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề.
Theo đó, Nhà nước sẽ giao đất trực tiếp cho các hộ gia đình để sản xuất hoặc để ở. Căn cứ quỹ đất, hạn mức đất và khả năng của địa phương, UBND cấp tỉnh, thành phố xem xét, quyết định giao đất ở cho các đối tượng này phù hợp với điều kiện và tập quán ở địa phương. Mức hỗ trợ để mua đất cấp trực tiếp bình quân cho mỗi hộ chưa có đất ở là 10 triệu đồng.
Đối với đất sản xuất, định mức cho mỗi hộ tối thiểu là 0,25 ha đất ruộng lúa nước 1 vụ hoặc 0,15 ha đất ruộng lúa nước 2 vụ hoặc 0,5 ha đất đồi, gò hoặc đất nuôi trồng thủy sản. Mức hỗ trợ cho mỗi hộ để có đất sản xuất không quá 20 triệu đồng/hộ.
Những hộ không có nhu cầu về đất sản xuất hoặc những địa phương không còn quỹ đất thì hỗ trợ bằng tiền để các hộ này có điều kiện tự tạo việc làm, chuyển đổi ngành nghề khác. Những hộ có nhu cầu vốn để mua sắm nông cụ, máy móc hoặc cần vốn để làm thêm các ngành nghề khác, tăng thu nhập, được hỗ trợ tối đa 3 triệu đồng/hộ và được vay vốn theo hình thức tín chấp tối đa không quá 10 triệu đồng/hộ trong 3 năm với lãi suất bằng 0%.
Ngoài ra, những lao động có nhu cầu học nghề để đi làm công nhân, đi xuất khẩu lao động được hỗ trợ tối đa 3 triệu đồng/lao động. Riêng lao động đi xuất khẩu còn được vay theo hình thức tín chấp tối đa 20 triệu đồng/người.
Trường hợp lao động đã được hỗ trợ vốn để đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, nhưng sau khi đào tạo không tham gia lao động sẽ không được hưởng các chính sách hỗ trợ vây vốn tìm việc làm, hỗ trợ ổn định cuộc sống.
Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo.
www.luatvietnam.vn

Chương trình 135 ở Sóc Trăng: Giao thông là trọng điểm

Tiếp chúng tôi tại Văn phòng làm việc, ông Huỳnh Phương Thảo, Chủ tịch UBND xã Tham Đôn tự tin khẳng định: "Những vấn đề bức xúc của xã vài năm trước đây như điện, đường, trường, trạm, thủy lợi...đến nay cơ bản được giải quyết. Bây giờ bà con có điều kiện thuận lợi hơn để đầu tư vào sản xuất, chăn nuôi, phát triển kinh tế hộ gia đình. Xã Tham Đôn đã rút ra khỏi CT 135 và đang được tỉnh xác định là vùng trọng điểm phát triển mô hình trồng rau màu (rau hẹ, dưa chuột, dưa hấu). phát triển làng nghề đan lát thủ công truyền thống. Xã có thuận lợi là nằm cạnh tỉnh lộ giao thông... nên việc đi lại, vận chuyển hàng hóa nông sản khá dễ dàng, thị trường tiêu thụ mở rộng thuận lợi hơn trước".
Ghé thăm ngôi nhà xây kiên cố, với những tiện nghi sinh hoạt khá đắt tiền của đôi vợ chồng trẻ Sơn Nam - Danh Thị Hạnh ở ấp Tắc Gồng (Tham Đôn), anh Nam phấn khởi cho biết: "Hiện nay, bình quân 3 ngày, mình lại thu hoạch bông hẹ một lần, mỗi lần bẻ được 25 - 30 kg, bán được khoảng 300.000 đồng. Giờ có đường giao thông thuận tiện rồi nên người ta đến tận vườn mua hẹ, mình không phải chở ghe đi bán vất vả như trước nữa". Được biết, ngôi nhà của vợ chồng anh Nam xây cất năm 2006 với tổng chi phí gần 70 triệu đồng. ''Số tiền này mình tích lũy từ thu hoạch bông hẹ, dưa leo, đậu côve và sữa bò"-anh Nam tiết lộ. Hiện nay, gia đình anh chị có thu nhập ổn định vài chục triệu đồng mỗi năm.
Chúng tôi cũng đã có mặt tại huyện Long Phú để tiếp xúc với Đại đức Sơn Sao, trụ trì chùa Bâng Kol, ấp Phú Đức. Nói về sự đổi mới trên quê hương, đại đức Sơn Sao nhấn mạnh: "Cách đây chừng 5 năm, bà con muốn lên trung tâm huyện phải đi bằng ghe xuồng mất cả tiếng đồng hồ mới tới, cán bộ xuống công tác cũng phải nghỉ lại qua đêm vì trời tối, đi ghe xuồng không đèn rất nguy hiểm. Bây giờ được Nhà nước đầu tư đường bê tông, đi đâu cũng thuận tiện, không tốn nhiều thời gian như trước". Thật vậy, huyện Long Phú hôm nay đã có đường giao thông cấp phối hoặc nhựa hóa tỏa xuống tất cả các xã.
Tuyến đường từ thị trấn Long Phú đến các xã Long Phú, Đại Ân 2, Trung Bình, Lịch Hội Thượng, Liêu Tú không chỉ được đầu tư bằng nguồn vốn 135 mà còn được lồng ghép từ nhiều nguồn vốn khác và còn có sự đóng góp rất tích cực về ngày công lao động của bà con nhân dân địa phương.
Không chỉ ở Long Phú, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, việc triển khai lồng ghép nguồn vốn 135 với các nguồn vốn khác để tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng hạng mục giao thông cũng được các huyện khác như Vĩnh Châu, Thạnh Trị, Ngã Năm, Kế Sách... triển khai thực hiện có hiệu quả thiết thực, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi tại nhiều vùng, làm chuyển biến đời sống cũng như nhận thức cho bà con Khmer vùng đặc biệt khó khăn trong tỉnh. Trong 2 năm (2006-2007), từ nguồn vốn triển khai dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc CT 135 giai đoạn II (gồm 47 tỉ đồng), tỉnh Sóc Trăng đã triển khai xây dựng thêm 105 công trình giao thông (chiếm trên 70% tổng số hạng mục công trình thuộc Chương trình), trong đó có 21 công trình cầu, 84 công trình đường với tổng chiều dài gần 200km cho 38 xã 135 trong khu vực.
Tuy nhiên, trong khi nguồn vốn Chương trình có hạn mà nhu cầu đầu tư của các địa phương lại quá lớn nên Sóc Trăng đã không tránh khỏi việc đầu tư dàn trải, dẫn tới chất lượng công trình chưa cao. Sau vài ba năm đưa vào sử dụng, nhiều công trình giao thông đã bị hư hỏng, xuống cấp trầm trọng, đơn cử như tuyến đường vào trung tâm xã Lai Hòa, huyện Vĩnh Châu.
Ông Phạm Tiến Hải, Trưởng phòng Kinh tế Kỹ thuật, Thư ký Chương trình 135 - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Sóc Trăng cho rằng: "Đối với những công trình giao thông xuống cấp hư hỏng lớn, tỉnh đã có văn bản giao cho các địa phương (cấp huyện) tự cân đối ngân sách để tiến hành sửa chữa. Nhưng kinh phí duy tu, bảo dưỡng chủ yếu trích từ nguồn vốn sự nghiệp giao thông, trong khi đó nguồn vốn này lại hạn hẹp nên các địa phương chỉ xử lý theo kiểu chắp vá tạm thời chứ chưa thực hiện được đồng bộ, bền vững lâu dài".
Mong rằng, tỉnh Sóc Trăng sẽ có những giải pháp khả thi để khắc phục những mặt hạn chế, tồn tại trong quá trình triển khai CT 135 giai đoạn II nhằm hoàn thành cơ bản các mục tiêu của Chương trình vào năm 2010.
Ngọc Ánh



Chương trình 135 góp phần tạo diện mạo mới cho vùng đồng bào Khmer

KTNT- Với hơn 30% dân số là người Khmer, chủ yếu sống ở 38 xã đặc biệt khó khăn, vấn đề xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào luôn là nỗi trăn trở của lãnh đạo tỉnh Trà Vinh. Thông qua nhiều nguồn vốn, trong đó có Chương trình 135 và 134, tỉnh đã tạo nên những đổi thay chiến lược cho vùng đồng bào. Về vấn đề này, ông Thạch Dư, Trưởng ban Dân tộc tỉnh cho biết:
Trà Vinh là một trong những tỉnh có đông đồng bào Khmer ở khu vực ĐBSCL. Khi mới thành lập, tỉnh đối mặt với nhiều thách thức bởi hạ tầng yếu kém, nhất là hệ thống giao thông, thủy lợi. Tình hình sản xuất và đời sống của nhân dân rất khó khăn, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa. Được sự đầu tư của Chương trình 135, kết cấu hạ tầng của các địa phươg ngày càng hoàn thiện, điều kiện sản xuất và đời sống nhân dân được nâng lên. Với số vốn 167,202 tỉ đồng, các địa phương đã đầu tư 484 công trình các loại, gồm: 230 công trình giao thông nông thôn, 55 trường học, 14 công trình điện hạ thế, 10 trạm y tế, 84 chợ, 5 công trình thủy lợi, 86 nhà văn hóa xã. Thực hiện giai đoạn II của Chương trình 135, các địa phương đã xây dựng được 107 công trình trường học, giao thông, thủy lợi, chợ, trạm y tế...với tổng vốn đầu tư 50,86 tỉ đồng. Hiện, các xã có đông đồng bào Khmer đều có đường ô tô đến trung tâm, hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất, một số khu vực có thể sản xuất 2 - 3 vụ lúa/năm; các xã đều có điện sử dụng, hệ thống trường lớp được kiên cố hóa...
Để đạt được kết quả đó, Ban Dân tộc tỉnh - đơn vị trực tiếp triển khai các chương trình, đã có những việc làm cụ thể gì?
Với tư cách là cơ quan thường trực thực hiện các chương trình hỗ trợ của Nhà nước, Ban Dân tộc tỉnh đã kết hợp với Sở Kế hoạch - Đầu tư căn cứ vào thực trạng của từng xã để tham mưu tỉnh phân bổ nguồn vốn một cách hợp lý. Khi được phân bổ vốn, các địa phương họp dân lấy ý kiến lựa chọn công trình cần đầu tư, đề nghị tỉnh xem xét, sau đó Ban Dân tộc kết hợp với các ngành liên quan trình UBND tỉnh chính thức phê duyệt. Trong quá trình thực hiện, chúng tôi thường xuyên theo dõi, kịp thời nắm tình hình để giải quyết các vấn đề phát sinh; tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo cho cán bộ cơ sở nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa của việc thực hiện Chương trình 134, 135 cũng như cách xây dựng và quản lý tốt các dự án được hỗ trợ đầu tư.
Trong thời gian tới, Ban Dân tộc tỉnh tập trung vào những vấn đề gì?
Trong giai đoạn 2, Ban Dân tộc sẽ kết hợp với các sở, ban ngành liên quan nghiên cứu, đề xuất Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành các chủ trương, chính sách việc thực hiện các Chương trình 134 và 135 phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương, đặc thù vùng đồng bào Khmer. Trong đó, tập trung vào một số vấn đề như quản lý và sử dụng nguồn vốn có trọng tâm, trọng điểm gắn với đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo bền vững, giải quyết tốt nhu cầu về đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho nhân dân, tiếp tục hoàn thiện hệ thống hạ tầng, tạo tiền đề cho bà con xóa đói giảm nghèo bền vững.
Xin cảm ơn ông.
Đào Thái thực hiện.

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2008

Khai mạc Hội nghị chuyên đề Phật giáo Nam tông Khmer lần III


Ngày 06/10/2008, Hội nghị chuyên đề Phật giáo Nam tông (PGNT) Khmer lần III năm 2008 do Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tổ chức đã khai mạc tại Bạc Liêu. Ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ cùng đại diện các vị chức sắc GHPGVN, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo, sư sãi các tỉnh ĐBSCL và một số tỉnh miền Đông Nam bộ có PGNT Khmer đã đến dự. Hội nghị tập trung đánh giá, rút kinh nghiệm triển khai thực hiện một số vấn đề liên quan của PGNT Khmer; phổ biến chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; triển khai một số hoạt động của GHPGVN nhiệm kỳ VI 2007 - 2012...
Ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ
(bìa, trái) gặp gỡ thân mật các đại biểu bên lề hội nghị

Theo đánh giá của GHPGVN, thời gian qua, Đảng, Nhà nước chính quyền các cấp tạo nhiều điều kiện cho PGNT Khmer phát triển. Đến nay có 452/452 chùa Khmer đã khắc con dấu và đưa vào sử dụng; hỗ trợ mở các lớp học trong chùa; thành lập Học viện PGNT Khmer tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ; công nhận các di tích chùa và khen thưởng cho các sư có công với cách mạng; cấp giấy chứng nhận tu sĩ; in kinh sách Khmer phục vụ việc học của chư tăng và tín đồ,...Tuy nhiên, ở một số nơi, việc thực hiện công tác này còn chậm.
Tại Hội nghị, các vị chức sắc tôn giáo các tỉnh, thành đề xuất: thời gian tới, GHPGVN, Chính phủ cần tiếp tục việc hỗ trợ xây dựng các chùa đã xuống cấp; hỗ trợ đào tạo tăng tài, chuyên môn nghiệp vụ; thống nhất chương trình giảng dạy lớp Pali, giáo lý Vini; đẩy mạnh việc công nhận các di tích chùa và khen thưởng các sư có công với cách mạng; tiếp tục cấp giấy chứng nhận tu sĩ...
Ông Nguyễn Thế Doanh, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ cho biết: Chính phủ luôn quan tâm tạo điều kiện cho PGNT Khmer phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân. Thời gian tới, Ban Tôn giáo Chính phủ cùng với GHPGVN, các địa phương sẽ thống nhất mô hình chuẩn của lớp học, trường học trong chùa; thống nhất chương trình học và cấp giấy chứng nhận tu học của các sư hệ phái PGNT Khmer; đẩy nhanh tiến độ xây dựng Học viện PGNT Khmer; bồi dưỡng, bổ nhiệm trụ trì và các ban quản trị chùa có đủ năng lực trong hoạt động...
T.TÂM

Cà Mau: Hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo

UBND tỉnh Cà Mau đã quyết định chi ngân sách 69 tỉ đồng thực hiện một số chính sách hổ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất, giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo. Theo đó, từ nay đến 2010, tỉnh sẽ đảm bảo 100% hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo có đất sản xuất. Tỉnh sẽ điều chỉnh 100 ha đất giải quyết nhu cầu về đất ở cho bà con. 80% hộ nghèo có việc làm, có thu nhập ổn định, 50% trong độ tuổi lao động được đào tạo nghề.
Hiện nay, Cà Mau còn 1.800 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo chưa có đất sản xuất. Như vậy số đất cần cho các hộ này là 500 ha, tổng số tiền lên tới 23 tỉ đồng. 800 hộ cần mua sắm nông cụ, máy móc hoặc làm nghề dịch vụ với số tiền khoảng 10 tỉ đồng. Trên 10.000 lao động có nhu cầu được đào tạo nghề với kinh phí 10 tỉ đồng. Để chính sách sớm đi vào cuộc sống, đảm bảo đúng đối tượng, công bằng, minh bạch, UBND tỉnh giao trách nhiệm cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, các sở ngành liên quan và UBND các huyện, thành phố tiến hành các bước thủ tục theo quy định./.
Trần Thành Niên