Thứ Năm, 8 tháng 4, 2010

Khám bệnh, tặng quà đồng bào Khmer nghèo

Nhân dịp Tết cổ truyền Chol Chnam Thmây 2010 của đồng bào Khmer, trong hai ngày 3 và 4/4, Bệnh viện 30-4 (Bộ Công an), Báo CAND kết hợp Cục An ninh Tây Nam Bộ, Công an tỉnh Trà Vinh và các “Mạnh Thường Quân” tổ chức khám bệnh, phát thuốc miễn phí và tặng quà đồng bào Khmer nghèo ở hai xã An Quảng Hữu (huyện Trà Cú) và Hùng Hòa (huyện Tiểu Cần), tỉnh Trà Vinh.

Nằm cách trung tâm Trà Vinh gần 60 km và là xã vùng sâu, vùng xa của huyện Tiểu Cần, An Quảng Hữu là xã nghèo, còn gặp rất nhiều khó khăn. Là cái nôi đấu tranh Cách mạng, sau năm 1975, An Quảng Hữu vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quí Anh hùng LLVTND.

Ngay từ sáng sớm, gần 200 người dân đã có mặt tại Trạm xá của xã để được các y, bác sĩ của Bệnh viện 30-4 và Bệnh xá Công an Trà Vinh khám bệnh, phát thuốc và tặng quà. Biết trước lượng bệnh nhân đông nên đoàn bác sĩ của Bệnh viện 30-4, do Đại tá - bác sĩ Tống Mạnh Chinh dẫn đầu đã chuẩn bị nhiều trang thiết bị y tế hiện đại để khám và chẩn đoán bệnh cho bà con. Bà Thạch Thị Mướt (62 tuổi, nhà ở ấp Sóc Tro dưới, xã An Quảng Hữu), có chồng là liệt sĩ Thạch Thâm (hy sinh năm 1971), bản thân bà từng là giao liên tại địa phương. Từ khi chồng mất, bà ở vậy nuôi con và làm ruộng cho đến nay. Do cuộc sống còn khó khăn nên từ trước đến giờ bà chưa từng đi khám, điều trị bệnh.

Tặng quà đồng bào Khmer nghèo.

Trước những việc làm đầy nghĩa tình của đoàn bác sĩ, anh Lâm Văn Xinh, Chủ tịch UBND xã thay mặt cho bà con phát biểu lời cảm ơn đầy xúc động: "Mặc dù chính quyền địa phương quan tâm, nỗ lực để người dân trong xã được chăm sóc tốt về sức khỏe nhưng do điều kiện của xã còn nhiều khó khăn, việc làm của đoàn là tràn đầy ý nghĩa. Thay mặt người dân, chúng tôi xin cảm ơn đoàn đã quan tâm, tận tình giúp đỡ cho bà con nghèo trong xã. Đây là món quà ý nghĩa mà các anh gửi đến bà con nhân dịp Tết Chol Chnam Thmây 2010".

Ngày 4/4, đoàn công tác từ thiện khám bệnh tiếp tục đến với bà con nghèo ở xã Hùng Hòa, huyện Tiểu Cần. Hùng Hòa là xã Anh hùng LLVTND, có đến hơn 40% dân số là đồng bào dân tộc Khmer. Ông Thạch Mây (71 tuổi), từng là Trưởng Công an xã và giữ các chức vụ khác ở địa phương, nay đã nghỉ hưu, bị bệnh gan, được các bác sĩ khám và điều trị.

Ông Thạch Mây nói: "Tôi thay mặt cho bà con nghèo, gia đình chính sách trong xã xin cảm ơn việc làm từ thiện, đầy ý nghĩa của đoàn bác sĩ lực lượng Công an. Việc làm trên thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và lực lượng Công an đối với những người có công với cách mạng, những người nghèo bị bệnh không có điều kiện được các bác sĩ khám chữa bệnh. Bà con chúng tôi sẽ cố gắng chữa bệnh, làm ăn vươn lên thoát nghèo, góp phần phát triển xã hội ở địa phương".

Đại tá, bác sĩ Tống Mạnh Chinh, Giám đốc Bệnh viện 30-4, cho biết: "Việc khám và chữa bệnh, phát thuốc miễn phí cho bà con nghèo là việc làm thường xuyên, hàng năm của Bệnh viện 30-4. Những việc làm từ thiện thể hiện tình cảm, trách nhiệm của người chiến sĩ Công an đối với bà con nghèo bị bệnh. Mỗi chuyến khám bệnh tại các địa phương, chúng tôi càng thương bà con nhiều hơn, vì có nhiều người chưa từng một lần được các bác sĩ khám bệnh. Bởi vậy, chúng tôi luôn mong muốn được tổ chức đợt khám bệnh ở các địa phương để giúp bà con nghèo có thêm nhiều cơ hội chăm sóc sức khỏe".

Thượng tá Kiên Rịnh, Phó Giám đốc Công an tỉnh Trà Vinh, nói: "Dịp Tết cổ truyền Chol Chnam Thmây của đồng bào Khmer, đoàn y, bác sĩ tổ chức để đến địa phương khám bệnh cho người nghèo là thể hiện tấm lòng của các anh đối với đồng bào. Những việc làm ấy rất ý nghĩa với địa phương Trà Vinh".

Theo Trung tá Lâm Thành Sol, Phó Cục trưởng Cục An ninh Tây Nam Bộ: "Những việc làm từ thiện của Bệnh viện 30-4, Báo CAND, Mạnh Thường Quân là hết sức ý nghĩa, đặt biệt là dịp tết của bà con. Qua việc làm ấy sẽ tạo sự đoàn kết, góp phần phát động sâu rộng các phong trào quần chúng, giữ vững ANTT ở địa phương". Theo Báo Công an nhân dân 6:32, 06/04/2010.

Chủ tịch nước chúc tết đồng bào dân tộc Khmer

(CAO) Ngày 6 - 4, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ đã tổ chức buổi họp mặt mừng Tết Chol Chnam Thmay 2010 với gần 600 cán bộ đương chức, hưu trí, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình chính sách, các vị chức sắc, các vị trong Ban quản trị các chùa Khmer tiêu biểu khu vực Nam bộ, kiều bào dân tộc Khmer đang sinh sống ở nước ngoài. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đến dự và chúc Tết đồng bào Khmer.

Phát biểu tại buổi họp mặt, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thay mặt Đảng, Nhà nước đã gửi lời thân ái, chúc mừng đến toàn thể đồng bào dân tộc Khmer nhân dịp tết cổ truyền Chôl Chnam Thmây. Chủ tịch nhắc nhở, đồng bào dân tộc Khmer cần tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững ổn định để xây dựng đất nước.
Đời sống đồng bào dân tộc Khmer có nhiều chuyển biến về mọi mặt. Trên 80% hộ có phương tiện nghe nhìn; phần lớn đã có xe máy; tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 40% năm 2006 xuống còn hơn 28% vào cuối năm 2009…Cũng nhân dịp này, Chủ tịch nước kêu gọi kiều bào Khmer đang sinh sống, học tập, làm việc ở nước ngoài tham gia đóng góp, đoàn kết để xây dựng đất nước.

Chủ tịch nước đánh giá cao những đóng góp của đồng bào Khmer trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Chủ tịch nước khẳng định, với truyền thống đoàn kết, ý chí tự lực tự cường, tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đồng bào Khmer và sư sãi tích cực cùng các cấp chính quyền ra sức lao động, sáng tạo để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát huy khối đại đoàn kết các dân tộc để xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp.
Dịp này, các đại biểu cũng nghe đại diện Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ báo cáo kết quả thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Qua đó, đã giúp cho đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào Khmer ngày càng được nâng cao. Các Chương trình 134, 135, Quyết định 74, 167, Chính sách trợ giá trợ cước của Chính phủ đã giúp nhiều gia đình Khmer nghèo có nhà ở, đất ở, điện thắp sáng, nước sạch sinh hoạt, vốn sản xuất... Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm được các cấp chính quyền quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho con em đồng bào Khmer có việc làm, ổn định cuộc sống. Công tác giáo dục, y tế được quan tâm phát triển giúp nâng cao dân trí và khám chữa bệnh cho đồng bào Khmer.
Theo báo Công an Thứ tư, 07/04/2010 11:30

Chủ Nhật, 28 tháng 3, 2010

Dạy chữ Khmer trong các chùa ở Kiên Giang

Kiên Giang là một trong những tỉnh ở vùng Tây Nam Bộ có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống. Những năm qua, phong trào dạy chữ Khmer ở Kiên Giang phát triển mạnh, mà những ngôi chùa là trường học còn những vị sư kiêm vai trò những người thầy.

Chúng tôi về huyện Giồng Riềng, một huyện có phong trào dạy chữ Khmer phát triển mạnh trong các chùa. Theo các cán bộ làm công tác dân tộc ở huyện thì phong trào đã được duy trì hơn năm năm. Chỉ tính riêng xã Bàn Thạch - một xã có đông đồng bào dân tộc Khmer nhất huyện Giồng Riềng, hằng năm duy trì đến năm lớp với hàng trăm học sinh theo học. Ngoài những lớp dạy tiếng Khmer vỡ lòng cho các em nhỏ, năm nay một số chùa ở huyện Giồng Riềng còn tổ chức thêm từ một đến hai lớp nâng cao dành cho người lớn và các em học sinh phổ thông để các học sinh này vững vàng khi bước vào năm học mới tại các trường phổ thông dân tộc nội trú. Ðại đức Danh Nol, trụ trì chùa Giồng Ðá, xã Bàn Thạch cho biết: "Do lượng học viên ngày càng tăng cho nên ngoài việc bố trí những phòng học gần chùa như những năm trước, nay chùa Giồng Ðá đã tận dụng cả những Sa La trong chùa để làm phòng học". Do phong trào hình thành khá lâu và tổ chức đều đặn cho nên năm nay lượng học viên đến chùa Giồng Ðá theo học các lớp tiếng Khmer nâng cao cũng nhiều hơn so với những năm trước. Ngoài con em, phật tử trong vùng, chùa Giồng Ðá còn thu hút đông đảo các em ở những xã lân cận đến học tập.

Là xã có hơn 57% dân số là người dân tộc Khmer cho nên những lớp dạy chữ Khmer như thế này ở Bàn Thạch là vô cùng bổ ích và rất có ý nghĩa. Bí thư Ðảng ủy xã Bàn Thạch, huyện Giồng Riềng Lê Quang Sang cho biết: "Xã rất hoan nghênh và luôn tạo điều kiện để các lớp dạy chữ Khmer được duy trì. Xã còn khuyến khích, vận động và tạo mọi điều kiện để đội ngũ cán bộ xã, ấp, con em người dân tộc được theo học xuyên suốt và phát triển đảng viên người dân tộc nhiều hơn nữa". Ngoài việc giúp con em đồng bào Khmer được học tốt tiếng mẹ đẻ, các lớp học chữ Khmer còn giúp cho cán bộ vùng đồng bào dân tộc biết được tiếng dân tộc. Không những vậy, các lớp học còn phát huy tốt nhu cầu, phong trào học tập nâng cao kiến thức văn hóa cho toàn xã hội. Cái hay của lớp học này là người dạy học là những vị sư dạy học bằng tấm lòng không nhận thù lao, người học không phải đóng học phí. Không những vậy, nhà chùa còn lo luôn việc ăn, việc nghỉ cho những người hoàn cảnh neo đơn, ở xa nơi học tập. Sư Danh Sương, giáo viên dạy chữ tại chùa Giồng Ðá cho biết: "Sư rất thích dạy chữ của dân tộc mình và rất hạnh phúc khi người đến học luôn đông đúc".

Tuy nhiên, để phát huy hơn nữa phong trào học chữ Khmer trong những vùng dân tộc, thì ngoài sự nỗ lực của các nhà chùa, chính quyền và ngành giáo dục - đào tạo cần hỗ trợ về cơ sở vật chất, chuyên môn để những lớp học này được nâng lên cả chất và lượng.

(Theo trang tin điện tử Ủy Ban dân tộc)


Sóc Trăng hỗ trợ 38.688 căn nhà cho đồng bào dân tộc Khmer

Tỉnh Sóc Trăng là một trong 13 tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, với khoảng 400 nghìn người người Khmer đang sinh sống, chiếm khoảng trên 30% dân số toàn tỉnh và chiếm trên 32% tổng số người Khmer của cả nước, đông nhất trong số các địa phương có người Khmer sinh sống.

Quán triệt Nghị quyết số 05-NQ/TU của Tỉnh uỷ Sóc Trăng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với công tác vùng đồng bào dân tộc Khmer giai đoạn 2006 – 2010, ngoài việc thực hiện các chính sách hỗ trợ của Chương trình 134, Chương trình 135, Quyết định 32... về đầu tư, hỗ trợ trong vùng đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh Sóc Trăng đã chỉ đạo cho các Sở, ban ngành, địa phương, các cấp phối hợp, lồng ghép với các nguồn vốn từ các chương trình khác như: Quyết định 167/TTg, Quyết định 74/TTg, Dự án Cung cấp điện cho các hộ dân chưa có điện chủ yếu là đồng bào Khmer, Chương trình nước sạch vệ sinh môi trường cho đồng bào Khmer, .... Theo số liệu thống kê của tỉnh, trong thời gian qua đã hỗ trợ 38.688 căn nhà ở cho người Khmer. Trong đó, từ năm 2005 – 2008 đã xây dựng được 33.154 căn nhà theo Quyết định số 134/TTg, với tổng giá trị trên 212.322 triệu đồng (bình quân từ 6 – 7,2 triệu đồng/ căn); năm 2009 đã xây dựng được 5.534 căn nhà ở theo Quyết định 167/TTg, với tổng giá trị trên 99.796 triệu đồng (trị giá 16,8 triệu đồng/căn, trong đó nhà nước hỗ trợ 8,4 triệu đồng/căn; Ngân hàng CSXH cho vay hỗ trợ không lãi suất 8 triệu đồng/căn); giải quyết các chính sách theo Quyết định 74/TTg: cấp đất ở cho 1.393 hộ, tổng giá trị 13.930 triệu đồng, cấp đất sản xuất cho 360 hộ, tổng giá trị 7.020 triệu đồng; chuyển đổi, mua sắm nông cụ cấp cho 3.895 hộ, tổng giá trị 11.685 triệu đồng; đào tạo nghề cho 1.718 lao động, tổng giá trị 3.542 triệu đồng....

Ngoài ra, Dự án Cung cấp điện cho các hộ dân chưa có điện chủ yếu là đồng bào Khme: đã kéo điện cho 20.388 hộ trên địa bàn 85 xã, phường của Tỉnh; đã đầu tư xây dựng các lò hoả táng cho các chùa Phật giáo Nam tông Khmer từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu Trung ương, nhằm đáp ứng nhu cầu tính ngưỡng của đồng bào Khmer, vừa đảm bảo vệ sinh môi trường. Tính đến nay, trên địa bàn Tỉnh có 92 chùa đã được đầu tư 68 lò, với tổng giá trị trên 24.004 triệu đồng, trong đó có 14 lò được Dự án Bảo vệ và Phát triển những vùng đất ngập nước ven biển hỗ trợ đầu tư.

Từ những chính sách an sinh xã hội mà Đảng và Chính phủ quan tâm, tạo điều kiện đặc biệt đối với đồng bào dân tộc cả nước nói chung và đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng nói riêng, cùng với sự “chung tay, chung sức” của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội của địa phương và việc tự vuơn lên của bà con, mong rằng trong thời gian sắp tới, đời sống của đồng bào Khmer trong Tỉnh sẽ được khởi sắc hơn nữa./.

Nguồn Trang tin điện tử Ủy Ban dân tộc



Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010

Ẩm thực của người dân tộc Khmer Bảy Núi (An Giang)


Văn hóa ẩm thực của một dân tộc, là một vấn đề mang ý nghĩa rất rộng, luôn gắn với sự hình thành lịch sử phát triển xã hội con người và thể hiện độc đáo chính bản sắc văn hóa của dân tộc ấy, nó sâu đậm vào mỗi tính cách sống, ở, làm người của một cộng đồng, dân tộc và không lệ thuộc vào nhiều hay ít, lớn hay nhỏ... đều có giá trị của bản sắc nghệ thuật độc đáo riêng. Người dân tộc Khmer Nam bộ, Bảy Núi cũng vậy. Sau đây là vài món “đặc sản” tiêu biểu, giới thiệu để chúng ta cùng tham khảo.1. Món mắm (bò hốc)Người dân tộc tìm bắt các loại cá trong đồng rạch, ao đìa như cá rô, cá sặt, cá chốt, cá trê, cá lóc... về làm sạch (đánh vảy, nhưng không mổ bụng) cho vào cà om, khạp, hũ... rải muối hột vào rồi gài cứng, đậy nắp trong một thời gian, sau đó giở ra chế biến bằng nhiều loại món ăn: mắm chưng, mắm kho hay ăn mắm sống - có chế biến thêm mắm chưng cho vào ít lá chanh, lá gừng xắt nhỏ, mắm sống thêm ớt, nước chanh, đường cát... và các loại rau sống, chuối chát, khế... riêng mắm (bò hốc kho) thì kho nguyên con mắm nguyên thủy không chế biến thêm gia vị. Nói chung - mắm là món chi phối tất cả món ăn khác như còn được nêm vào rất nhiều món (đây là vị nêm đặc thù của người dân tộc) như vào canh sim lo, bò xào lá giang, canh môn, nước bún cari... hay làm nước chấm cá nướng, ếch nướng, rắn nướng... 2. Các loại bún nước (Num b”chốc)Các món nước đi đôi với bún, cũng rất phong phú, đa dạng như bún nước cá, bún nước ngãi, bún cari... Nước để ăn cùng món bún thường nấu với cá lóc, cá trê, hoặc tép, tôm khô... được rỉa ra từng miếng nhỏ vào trong nồi nước tổng hợp, có gia vị, nấu với ngãi (bún ngãi), nấu với sả, nghệ, cari (bún cari)... nhưng đặc biệt phải có chấm vào một ít chất nêm của mắm (bò hốc) và chút nước cốt dừa. Riêng bún thì không mua ở các lò mà tự làm bằng gạo xay thành bột, rồi rút và ép bằng cối thủ công, nên cọng bún dai và lớn hơn bún thường bán ngoài chợ của người Việt. Kèm với bún là gỏi gồm chút giá, chút bắp chuối xắt mỏng hay rau muống xắt mỏng, ít rau thơm như rau răm, diếp cá, quế... Đặt nồi nước đun sôi liên tục. Cho gỏi vào đáy tô, rồi bún, cá... đổ nước vào, chắt ra 2 lần cho bún và gỏi thấm nóng, xong cho nước vào ngang mặt bún, rải lên vài miếng rau thơm và đôi ba trái ớt hiểm (giống ớt chim ỉa), riêng bún cari, bún ngãi có nơi rắc lên thêm ít đậu phộng đâm nhỏ, nếu ai ăn mặn thì nêm thêm nước mắm trong.3. Các món canhNgười dân tộc rất nhiều món canh nóng, phải kể phong phú nhất là canh sim lo. Gồm nhiều thứ chế biến vào như: canh sim lo thập cẩm, sim lo mít, sim lo bình bát... Các món canh như canh môn, canh thốt lốt non, canh củ hủ dừa, củ hủ đủng đỉnh...Nếu như sim lo của người Việt được bào chế bằng nhiều thứ như bắp chuối xắt nhỏ, nấu với đầu hoặc xương cá khô, thêm chút mắm, gia vị, rau om, nhiều ớt... Thì canh sim lo của người dân tộc khá phong phú hơn. Và dù nấu với bất kỳ thực phẩm thực vật nào, thì cũng phải có chút vị mắm (bò hốc) làm chuẩn (mắm cá sặt càng ngon). Mắm cho vào nước nấu thật nhừ, lược bỏ xương, lấy nước rồi cho vào ba bốn gốc sả đập giập. Nếu nấu với mít non, cho mít non vào, nấu với bình bát cho bình bát vào, cá lóc rỉa lấy thịt - nếu không cũng là tép, tôm khô bỏ vào nấu...Xem ra, ẩm thực của một dân tộc nào đều cũng mang giá trị nghệ thuật chế biến riêng - nói cách khác - nấu cho đúng cách, ăn cho đúng kiểu, thưởng thức cho đến tận cùng niềm vui thú ẩm thực dù dân dã, đồng quê, đơn giản hay cầu kỳ sang trọng cũng rất cần có một cách nhìn - đó là tấm lòng và tâm hồn ăn uống nữa... mang đậm nét đặc trưng nguồn cội, tổ tiên... Điểm rất chung của người Việt và người dân tộc Khmer ta là rất thảo ăn. Khi có lễ, cúng tại chùa mỗi nhà quảy một mâm đem đến cúng và đợi khách ăn xong đem tô chén về, khi thấy các món ăn còn nhiều thì buồn lắm... Vì vậy, không chỉ người Kinh, mà văn hóa ẩm thực Khmer cũng có nhiều cách thể hiện mời nhau dùng bữa như si bay, hợp bay, pi sa bay, chhanh bay... (mời ăn cơm, dùng cơm, thỉnh dùng cơm...).
Nguồn: Báo Hậu Giang

Thứ Hai, 25 tháng 1, 2010

Khởi động ngày hội VHTTDL Khmer Nam Bộ 2010

(VH)- Ngày hội VHTTDL vùng đồng bào Khmer Nam Bộ lần 5-2010 do UBND tỉnh An Giang đăng cai tổ chức vào tháng 4.2010 tới tại huyện Tịnh Biên.

Với chủ đề “Đặc trưng VHTTDL vùng đồng bào Khmer Nam Bộ-hành trang hội nhập và phát triển”, ngày hội năm nay quy tụ các đoàn văn hoá nghệ thuật, thể thao và du lịch của các tỉnh, thành khu vực Nam Bộ tham dự với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng như: hội chợ triển lãm thành tựu VHTTDL, liên hoan nghệ thuật quần chúng, trình diễn trang phục truyền thống, lễ hội dân gian, giới thiệu văn hoá ẩm thực và giao lưu văn hoá...

Đây là hoạt động VHTTDL mang tính truyền thống dành cho đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ do Bộ VHTTDL phối hợp với các Bộ, ngành TƯ và UBND các tỉnh, thành có đông đồng bào dân tộc Khmer tổ chức định kỳ hai năm một lần, luân phiên tại các địa phương trong khu vực. (Theo Báo văn hóa )

Thanh Triều

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2010

Nơi đào luyện những nhân tài Phật học

Việc xây dựng và phát triển các Học viện Phật giáo ở Việt Nam không chỉ đơn thuần để phục vụ nhu cầu tu học đang ngày càng tăng nhanh của đông đảo chúng tăng ni sinh trong cả nước mà còn là nơi để Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) đào luyện và tuyển chọn ra những nhân tài Phật học có đủ đức, đủ tài gánh vác được công việc của Phật sự và thế gian trong thời đại mới.

Từ "Tuyển Phật trường” phương Bắc

Có người ví Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội (HVPG-HN) là một “Tuyển Phật trường”, tức là ngôi trường đào tạo và tuyển chọn nên những người đảm trách Phật sự trong tương lai. Toạ lạc uy nghiêm dưới tán rừng thông xanh ngút ngàn của ngọn Sóc Sơn (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội), Học viện được thừa hưởng một không gian trong lành thoáng đãng, xa nơi ồn ào của phố thị nên rất thích hợp cho môi trường tu trì và rèn luyện của tăng ni.

Theo Đại đức Thích Minh Tiến, Trợ lí Viện trưởng kiêm Thư kí Hội đồng điều hành Học viện: “Học viện là một ngôi trường dành riêng cho giới tăng ni cho nên việc giáo dục tăng ni không chỉ đơn thuần là việc học mà còn giáo dục cả nhân cách làm người xuất gia. Vì vậy, việc đào tạo ở HVPG-HN vừa nghiêm khắc nhưng cũng phải vừa khoan dung, nhân hòa”.

Tại đây, mọi thứ dường như đều được đặt vào khuôn khổ của giới luật. Từ chuyện giao tiếp, ăn ở, sinh hoạt, học hành cho đến tu tập… của tăng ni sinh nhất nhất đều được Ban quản chúng của Nhà trường đốc thúc và để ý đến. Cuộc sống tu học ở đây bốn mùa nắng cũng như mưa. Sáng 4 giờ đã thức dậy tụng kinh niệm Phật, ngày ba bữa rau dưa đạm bạc, trưa và chiều lên giảng đường ngồi trang nghiêm nghe thầy giảng đạo, chiều vãn lại lên chùa lễ Phật, tối về tăng xá tiếp tục mở sách ôn bài… Không những thế, mỗi ngày các tăng sinh còn phải học và tự răn 250 điều giới luật, còn ni sinh là 348 điều để sửa mình. Giới luật nghiêm minh nhưng xem ra ai nấy đều tự nguyện bảo ban nhau chấp hành tốt môn quy.

Lại nói đến chuyện học ở “Tuyển Phật trường”, ngoài đời học một, ở đây các tăng ni sinh phải học mười. Một học kì các sinh viên ở ngoài đời chỉ học từ 6 đến 9 môn còn học viên của Học viện phải học từ 17 đến 19 môn. Ngoài những môn nội điển thuộc về giáo lí nhà Phật có đến thiên kinh vạn quyển, các học viên còn phải học thêm cả những môn ngoại điển, tức là những môn học của người đời chẳng mấy khi liên quan đến chuyện giáo lí như kinh tế học, xã hội học, triết học, logic học, ngoại ngữ, vi tính… cho nên đã khó càng khó thêm.

Tuy nhiên, tiếng là học ở trường tu nhưng các học viên bây giờ hầu như ai cũng đã biết cập nhật với những tiện nghi của thời hiện đại, cũng máy tính xách tay, cũng đài, cũng đĩa… Chính vì vậy việc học hành và tham khảo cũng nhờ đó mà phát triển hơn lên. Bên cạnh đó, ngoài giờ học chính khóa, các học viên còn thành lập được Câu lạc bộ (CLB) thư pháp, CLB văn hóa văn nghệ và CLB võ thuật giúp cho họ có thêm được sân chơi bổ ích trong việc tu dưỡng thêm về đạo tâm và rèn luyện về thể lực cũng như trí lực.

Có thể nói, HVPG-HN xứng đáng là một “Tuyển Phật trường”, nơi đào luyện nên những nhân tài Phật học có đủ đức tài gánh vác được trọng trách của Phật sự và xã hội trong tương lai.


Giờ học Hán cổ của lớp tăng I khóa V do GS. Nguyễn Tá Nhí (Viện Hán Nôm) giảng dạy.


Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tới dự
Đại lễ Phật Đản tại HVPGVN.


Những hoạt động như vui chơi kéo co đem
lại cho học viên niềm vui, phấn khởi
sau những giờ tu học.


Luyện thư pháp đem lại phấn khởi
sau những giờ tu học.


Tham gia lao động tăng gia sản xuất
sau những giờ tu học.


Phút giải trí sau những giờ tu học.

Đến trường Phật học phương Nam

Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh (HVPG-HCM) cũng là một trung tâm nghiên cứu và đào tạo Phật học lớn của cả nước. Theo Hòa thượng Tiến sĩ (TS) Thích Minh Châu, Viện trưởng HVPG-HCM cho biết: “Nội dung và chương trình đào tạo Cử nhân Phật học ở đây không đào tạo việc tu hành mà đào tạo những kiến thức Phật học và văn hóa dân tộc cùng một số ngành học liên quan theo tiêu chuẩn của bậc đại học”.

Với mục tiêu đào tạo như vậy cho nên HVPG-HCM đã xây dựng được một đội ngũ đông đảo các giảng sư có trình độ chuyên môn cao, tốt nghiệp các học viện nổi tiếng ở trong nước và trên thế giới. Hiện tại, Học viện có hơn 60 giảng sư, trong đó có 50 tiến sĩ và gần 10 thạc sĩ, ngoài ra còn có các giáo sư thỉnh giảng đến từ các học viện trong nước và trên thế giới.

Nói đến thành quả của Học viện, TS Thích Tâm Đức, Trưởng Phòng Đào tạo của Học viện cho biết: “Từ năm 1985 tới nay Học viện đã đào tạo được 5 khóa Cử nhân Phật học với hơn nghìn tăng ni sinh đã tốt nghiệp. Hai khóa VI và VII hiện đang được đào tạo với số lượng học viên tăng lên gấp bội. Nếu như khoá I chỉ có 60 học viên thì khóa VII đã có tới 1.017 học viên theo học. Đặc biệt, bằng Cử nhân Phật học của Học viện hiện đã được nhiều nước trên thế giới công nhận. Nhờ đó mà hàng trăm học viên tốt nghiệp của Học viện có thể tiếp tục theo học chương trình đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ tại các trường quốc tế như Đại học Quốc gia Dehli, Đại học Pune (Ấn Độ), Đại học Quốc gia Đài Loan, Đại học Bắc Kinh, Đại học Thượng Hải (Trung Quốc), Đại học Tokyo (Nhật Bản), Đại học Berkeley (Hoa Kỳ)… Và trong tương lai, với năng lực của mình HVPG-HCM cũng sẽ tiến hành tổ chức đào tạo bậc Thạc sĩ và Tiến sĩ Phật học ở trong nước.

Với phương châm “Nghiên cứu Phật học Việt Nam không thể tách rời với với việc nghiên cứu văn hoá Việt Nam”, HVPG-HCM đang ngày càng khẳng định được vai trò và vị thế của mình trong hệ thống giáo dục Phật học tiên tiến của cả nước. Tại đây, những giá trị truyền thống và hiện đại luôn được khơi dậy góp phần xây dựng một nền Phật giáo Việt Nam theo tinh thần nhập thế.


Nữ Tiến sĩ Phật học đầu tiên ở Việt Nam – Thích Nguyên Hương trên giảng đường HVPG-HCM.


Tăng sinh tìm tài liệu tham khảo
tại thư viện HVPG-HCM.


Trong lớp học tại HVPG-HCM.


Học viện Phật giáo Việt Nam
tại Tp. Hồ Chí Minh.

Và Học viện của vùng sông nước Cửu Long

Học viện Phật giáo Nam Tông Khmer (HVPG-NTKM) là ngôi trường có tuổi đời trẻ nhất trong số 3 Học viện Phật giáo của Việt Nam. Đây là ngôi trường Phật học cao cấp của đồng bào Phật tử Khmer vùng sông nước Cửu Long vừa được Chính phủ và GHPGVN đầu tư xây dựng. Mặc dù mới ra đời không lâu (06/02/2006) nhưng HVPG-NTKM có trụ sở tạm thời tại chùa Pôthisomron, quận Ô Môn, Tp. Cần Thơ đã bước đầu chính thức đi vào hoạt động bằng việc chiêu sinh khoá I với gần 70 tăng ni sinh theo học bậc đại học.

Phật giáo Nam Tông Khmer là một hệ phái có lối tu hành riêng và có kho tàng kinh sách cổ được truyền bá bằng một thứ ngôn ngữ riêng, đó là ngôn ngữ Pali. Chính vì vậy, việc tu học của các tăng ni sinh Phật giáo Nam Tông Khmer cũng có nhiều nét khác biệt so với Phật giáo Bắc Tông, đặc biệt là việc học chữ Pali để phục vụ cho việc dịch và đọc kinh sách.

Trước đây, khi chưa có sự ra đời của HVPG-NTKM, các tăng ni sinh của Phật giáo Nam Tông Khmer được Giáo hội tổ chức theo học tại các lớp sơ cấp và trung cấp về Vini và Pali. Ngoài ra, các học viên còn được học thêm một số môn ngoại điển như Anh văn và tin học. Từ những lớp học như thế này, hàng nghìn tăng ni sinh đã được đào tạo một cách cơ bản về ngôn ngữ Pali cũng như kiến thức Phật giáo Nam Tông. Bên cạnh đó, đa số các chùa Nam Tông Khmer cũng đều có tổ chức những lớp dạy tiếng dân tộc cho con em người dân tộc ở độ tuổi từ 8 đến 15 tuổi. Ngoài việc học ở các lớp, hiện nay người dân Khmer vẫn còn giữ được tục gửi các bé trai lên chùa để học tập chừng đôi ba năm để làm quen với việc kinh sách, tu hành. Tuy nhiên, nhìn về tương lai, những lớp học như thế này vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu tu học, nhất là việc tu học bậc cao của tăng ni sinh trong thời đại mới.

Chính vì vậy, việc thành lập HVPG-NTKM là bước phát triển toàn diện mang tính chiến lược của GHPGVN, trong đó có hệ phái Phật giáo Nam Tông Khmer, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo đồng bào Phật tử Khmer tại đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ cũng như cho cả hệ phái Nam Tông khu vực Châu Á.

Do mới thành lập cho nên Nhà trường vẫn đang ở trong giai đoạn xây dựng và kiện toàn trường lớp cũng như các chương trình đào tạo. Hiện nay, Học viện đã có 7 giảng sư có trình độ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ và 2 giảng sư thỉnh giảng từ HVPG-HCM. Dự kiến khoảng 3 năm nữa Học Viện sẽ chính thức hoạt động tại cơ sở mới được quy hoạch trên diện tích 11,3 ha ở quận Ô Môn, Tp. Cần Thơ.

Với những kết quả như vậy, hi vọng trong tương lai không xa, HVPG-NTKM sẽ trở thành một trung tâm đào tạo Phật học lớn của cả nước, góp phần hoàn thiện hệ thống chương trình giáo dục và đào tạo tăng tài của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong thời kì mới.


Ngoài giờ trên lớp của các tăng sinh.


Tăng sinh trong lớp học tại HVPG-NTKM.


Du khách nước ngoài đến thăm, tiếp xúc
với các tăng sinh tại chùa Phothisomron,
nơi đặt HVPG-NTKM.


Tăng sinh trong lớp học tiếng Anh
tại HVPG-NTKM.

Bài: Thịnh Phát, Thanh Hòa - Ảnh: Minh Quốc, Trọng Chính