Thứ Năm, 8 tháng 1, 2009

Giáo dục nhân quyền để quốc tế hiểu Việt Nam hơn



Ngày 8/1, Hội thảo khoa học nhằm đánh giá công tác nghiên cứu khoa học và giáo dục về nhân quyền kể từ khi Ban Bí thư ban hành Chỉ thị 12-CT/TW về “Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta” đã được Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức tại Hà Nội.

Quyền tư tưởng, chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội

Ảnh: VOV
Phó Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh - PGS.TS Nguyễn Đăng Thành, cho biết, giáo dục về quyền con người đã gắn với tuyên truyền quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về quyền con người; xác định trách nhiệm của các chủ thể chính trong việc thực thi, giám sát việc bảo vệ quyền con người…

Cũng theo PGS. TS Nguyễn Đăng Thành, vấn đề quyền con người mới chính thức được quan tâm nghiên cứu và giảng dạy tại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.

TS. Nguyễn Thị Báo (Viện Nghiên cứu Quyền con người) cho rằng, Việt Nam hiện đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, hội nhập và phát triển, do đó giáo dục quyền con người lại càng có ý nghĩa to lớn hơn bao giờ hết.

“Một mặt, chuyển tải những nội dung cơ bản về quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về quyền con người đến mọi công dân, mặt khác tuyên truyền các thành tựu cơ bản về quyền con người mà Việt Nam đã nỗ lực đạt được nhằm làm cho bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về Việt Nam, phản bác lại các luận điệu vu cáo, bôi nhọ chế độ trên cơ sở lợi dụng các vấn đề về dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch”, TS. Nguyễn Thị Báo nói.

PGS.TS Nguyễn Thanh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Quyền con người, cho rằng, nhìn chung, đường lối, chính sách cơ bản của Đảng và Nhà nước ta đã định hướng khá toàn diện nội dung của quyền con người, quyền công dân, từ quyền tư tưởng, chính trị, dân sự đến các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; từ quyền độc lập thống nhất của dân tộc - quốc gia đến quyền của các giai tầng xã hội, quyền của những nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội, như quyền của người nghèo, trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, người tàn tật, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào các tôn giáo…

Theo các đại biểu, giáo dục về quyền con người có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện và bảo vệ quyền con người. Cần coi việc nghiên cứu và giảng dạy quyền con người là một nhiệm vụ quan trọng, lâu dài và cấp bách để nâng cao nhận thức chung của xã hội về quyền con người.

Năm 1990, Việt Nam bắt đầu nộp báo cáo quốc gia và thực hiện các nghĩa vụ quốc gia đối với các điều ước quốc tế về quyền con người. Ngày 12/7/1992, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị 12-CT/TW về “Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta”. Chỉ thị 12 đã bước đầu nêu lên một số quan điểm cơ bản về vấn đề nhân quyền và chủ trương của Đảng trong việc bảo vệ và đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền ở Việt Nam.

(Theo TTXVN)

Thứ Tư, 7 tháng 1, 2009

Dạy môn Ngữ văn Khmer cho học sinh Khmer



Năm học 2008 - 2009, gần 100 điểm trường tiểu học và 6 điểm trường trung học phổ thông dân tộc nội trú ở các huyện, thị trong tỉnh Trà Vinh thực hiện dạy môn Ngữ văn Khmer cho trên 16.200 học sinh dân tộc Khmer. Bình quân mỗi tuần học sinh lớp 1 học 2 tiết và học sinh từ lớp 2 đến lớp 5 học 4 tiết Ngữ văn Khmer.

Trà Vinh hiện có khoảng 300.000 người Khmer đang sinh sống, chiếm 30% dân số của tỉnh. Trước đây, việc dạy và học chữ Khmer ở Trà Vinh được tổ chức tại các chùa do các vị sư sãi đảm nhận. Kể từ khi tái lập tỉnh (tháng 5/1992), Trà Vinh bắt đầu thực hiện dạy môn Ngữ văn Khmer ở các điểm trường tiểu học ở vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống. Toàn tỉnh hiện có hơn 200 giáo viên dạy môn Ngữ văn Khmer./.

Theo Tin tức

ÔNG TÁC XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER Ở TRÀ VINH


Mấy năm gần đây, Đảng bộ Trà Vinh đặc biệt chú trọng công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer. Năm năm qua, Trà Vinh kết nạp thêm 1.726 đảng viên, nâng tổng số đảng viên người dân tộc Khmer lên 3.695 đồng chí. Số chi, đảng bộ trong sạch, vững mạnh hằng năm tăng cả về số lượng và chất lượng. Đội ngũ đảng viên là người dân tộc Khmer đã thực sự góp phần quan trọng vào việc lãnh đạo thựchiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ở địaphương.

Trà Vinh là tỉnh vùng sâu, ven biển đồng bằng sông Cửu Long. Dân số hiện có hơn 1.059.000 người, trong đó dân tộc Khmer có 318.510 người, chiếm 30,27%; 65 xã, phường, thị trấn trong tỉnh có 20% dân số trở lên là người Khmer, 494/783 ấp, khóm có người Khmer. Cả tỉnh có 141 chùa Khmer; hầu hết đồng bào Khmer đều theo đạo Phật.

Quán triệt Chỉ thị số 68-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) về Công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, Tỉnh ủy Trà Vinh đã ban hành 2 Nghị quyết chuyên đề về phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc Khmer, trong đó đặc biệt chú trọng công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng vùng đồng bào dân tộc Khmer. Trên cơ sở đó, Tỉnh ủy tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện và đã tạo được sự chuyển biến tích cực.

Nhận thức đúng và cách làm cụ thể

Thực hiện các quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chức năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở đảng, các cấp ủy, đội ngũ đảng viên trong tỉnh nhận thức đúng và nghiêm túc về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn vùng đồng bào dân tộc Khmer; tập trung củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng các loại hình tổ chức cơ sở đảng theo tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh phù hợp với yêu cầu thực tiễn của địa phương. Trà Vinh đã cụ thể hóa các quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng bằng các quy định, hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ của chi bộ ấp, khóm, trường học, hợp tác xã, trạm y tế, phường, thị trấn. Các cấp ủy, chi bộ, đảng bộ cơ sở đều phải nghiêm túc xây dựng quy chế làm việc, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình, chế độ sinh hoạt cấp ủy, chi bộ.

Trong chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng, Đảng bộ Trà Vinh đặc biệt chú ý xây dựng tổ chức cơ sở đảng vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer. Đến nay, toàn tỉnh có 100% ấp, khóm có chi bộ và đảng viên là người tại chỗ; 389 chi bộ ấp, khóm có đảng viên là người dân tộc Khmer, trong đó 40 chi bộ có 100% đảng viên là người dân tộc Khmer. Số đảng bộ xã trong sạch, vững mạnh hằng năm tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng. Kết quả đánh giá chất lượng 59 đảng bộ xã, phường, thị trấn trên 20% số dân là đồng bào dân tộc Khmer năm 2007 như sau: có 32 đảng bộ đạt trong sạch, vững mạnh và 24 đảng bộ hoàn thành nhiệm vụ.

Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bước chuyển biến tích cực. Bên cạnh việc chăm lo đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đã chỉ đạo phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đảng viên ở cơ sở. Cả tỉnh có 87,66% số đảng viên ở xã, phường, thị trấn được phân công nhiệm vụ cụ thể, phụ trách tổ hoặc cụm dân cư, sinh hoạt trong một tổ chức đoàn thể, phù hợp với điều kiện kinh tế gia đình và yêu cầu công tác để đảng viên luôn an tâm phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đồng thời chỉ đạo cấp ủy viên, đảng viên định kỳ tự phê bình trước nhân dân để nhân dân giám sát đảng viên, đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, tạo mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với dân. Nhờ đó, chất lượng đảng viên nói chung, đảng viên là người Khmer không ngừng được nâng lên.
Kết quả đánh giá phân loại 2.993/3.372 đảng viên là người Khmer (số còn lại là đảng viên được miễn công tác, miễn sinh hoạt, mới kết nạp) năm 2007 như sau: có 1.787 đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ, chiếm 59,70% (trong đó có 11,63% số đảng viên đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ); 1.120 đảng viên đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ, chiếm 37,42%. Công tác kết nạp đảng viên cũng tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng. Năm 2002, Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị “Về tăng cường công tác phát triển đảng viên là người dân tộc Khmer, Hoa”, qua 5 năm, kết nạp 1.726 đảng viên là người dân tộc Khmer, nâng tổng số đảng viên người dân tộc Khmer lên 3.695 đồng chí, chiếm tỷ lệ 13,69% tổng số đảng viên của tỉnh. Đội ngũ đảng viên là người dân tộc Khmer đã góp phần quan trọng vào việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.

Công tác cán bộ là then chốt

Về công tác cán bộ, các cấp ủy đã thực sự quan tâm chỉ đạo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn trên cơ sở làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho cơ sở. Thực hiện quy hoạch Ban Chấp hành đảng bộ xã, phường, thị trấn (thuộc 6 huyện và thị xã) nhiệm kỳ 2010 - 2015 gồm 1.594 đồng chí (trong đó có 195 đồng chí là người dân tộc Khmer, chiếm 12,23%); Ban Thường vụ đảng ủy xã, phường, thị trấn gồm 656 đồng chí (63 đồng chí là người dân tộc Khmer, chiếm 9,06%). Thực hiện chính sách thu hút người có trình độ đại học về công tác ở cơ sở, tính đến cuối năm 2007 đã có 91/102 xã, phường, thị trấn tiếp nhận 260 người (trong đó có 26 cán bộ là người dân tộc Khmer, chiếm tỷ lệ 10%). Triển khai đề án đào tạo cán bộ theo địa chỉ cho xã, ấp, đã khai giảng 4 lớp có 475 học viên cho các lớp đại học, cao đẳng phát triển nông thôn, trung cấp pháp lý (trong đó người dân tộc Khmer là 54, chiếm tỷ lệ 11,36%). Hằng năm, tỉnh mở nhiều lớp đào tạo lý luận chính trị trung cấp, bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức quản lý nhà nước, công tác đoàn thể... cho trên 10.000 lượt cán bộ xã, ấp, trong đó cán bộ dân tộc chiếm trên 30%.

Để tạo nguồn cán bộ chủ chốt, tỉnh đã thực hiện Đề tài “Thực trạng và giải pháp tạo nguồn cán bộ chủ chốt cho hệ thống chính trị của tỉnh thời kỳ 2005 - 2015”, trong đó xác định tạo nguồn cán bộ người dân tộc Khmer là một khâu đặc biệt quan trọng. Tỉnh đã chủ trương chuẩn hóa đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn; giải quyết chế độ cho cán bộ không đủ chuẩn nghỉ việc hưởng trợ cấp 1 lần, năm 2007 đã giải quyết cho nghỉ việc 392 đồng chí (trong đó có 58 cán bộ dân tộc Khmer), chiếm 35,37% so với tổng số cán bộ chuyên trách xã, phường, thị trấn; bố trí cán bộ mới đủ tiêu chuẩn thay thế số cán bộ đã nghỉ việc, hiện nay về cơ bản đội ngũ cán bộ chuyên trách ở xã, phường, thị trấn nói chung và vùng đồng bào dân tộc Khmer của tỉnh nói riêng đã được chuẩn hóa một bước. Đối với cán bộ dân tộc Khmer, mặc dù có một số đồng chí tuy chưa đủ chuẩn nhưng có năng lực thực tiễn, tỉnh chủ trương tiếp tục đào tạo để bố trí làm cán bộ chủ chốt ở cơ sở.

Tính đến hết năm 2007, cấp ủy viên cơ sở là người Khmer có 227 đồng chí, chiếm 16,03% tổng số cấp ủy viên xã, phường, thị trấn; trong đó có 8 bí thư, 14 phó bí thư thường trực cấp ủy, 4 chủ tịch, 20 phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, 10 chủ tịch, 30 phó chủ tịch ủy ban nhân dân. Trong số 2.781 đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn nhiệm kỳ (2004 - 2009) có 713 đại biểu là người dân tộc Khmer, chiếm tỷ lệ 25,63%.

Công tác xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng tổ chức cơ sở đảng vùng đồng bào dân tộc Khmer đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị ở cơ sở, thực hiện tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ mà các nghị quyết Đại hội VII, VIII của Đảng bộ tỉnh đề ra. Mức tăng trưởng GDP năm 2002 chỉ là 9,7%, đến năm 2006 tăng lên 14,42% và năm 2007 là 13,74%. Thực hiện các Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg và 134/2004 QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, kết cấu hạ tầng, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc Khmer, đã có sự chuyển biến quan trọng. Trước đây toàn tỉnh chỉ có 23 km đường nhựa, nay đã có hơn 630 km và 1.500 km đường giao thông liên ấp được bê tông hóa, xe máy đến được 750/783 ấp, khóm, ô-tô đến được trung tâm của 100/102 xã; 100% số xã có điện và 92% số hộ sử dụng điện (84,2% hộ dân tộc Khmer), 82% số hộ sử dụng nước sạch; 9.849 căn nhà được xây dựng và bàn giao cho các hộ gia đình người Khmer gặp khó khăn về nhà ở; bình quân 19 máy điện thoại cố định/100 hộ dân; 100% xã có trạm y tế, trong đó 94% số xã có bác sĩ, hầu hết các xã đông đồng bào Khmer đều có bác sĩ; có 6 trường phổ thông dân tộc nội trú với 1.167 học sinh dân tộc Khmer, bình quân hơn 4,6 người có 1 người đi học.

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển khá, đến nay trong số 568 ấp văn hóa có 130 ấp, khóm có đông đồng bào Khmer được công nhận ấp, khóm văn hóa (chiếm 26,31% so với ấp, khóm có người Khmer), 51/141 chùa Khmer được công nhận cơ sở tôn giáo văn minh, 100% chùa Khmer đều có ti-vi, 34 chùa có phòng đọc sách, 60.017 hộ dân tộc Khmer được công nhận gia đình văn hóa.

Những bài học kinh nghiệm

Từ thực tiễn công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng vùng đồng bào dân tộc Khmer, tỉnh Trà Vinh có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm:

Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên phải nhận thức, quán triệt sâu sắc các quan điểm, vị trí, tầm quan trọng, mục đích, ý nghĩa của công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer. Đây là nhiệm vụ then chốt, vì vùng đồng bào Khmer có vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh.

Hai là, xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở xã, nhất là vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer, phải trên cơ sở xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; thường xuyên chăm lo xây dựng và từng bước nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện nhằm phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, xóa đói, giảm nghèo, củng cố quốc phòng, an ninh, gắn liền với lãnh đạo thực hiện đúng các chính sách, pháp luật có liên quan đến đời sống nhân dân; tạo điều kiện cho nhân dân phát huy quyền làm chủ, tích cực phê bình, đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, chính quyền... Đó là những yếu tố quan trọng để xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh.

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là người Khmer thật sự có năng lực, uy tín để lãnh đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, giữ vững vai trò hạt nhân đoàn kết nội bộ. Nơi nào cấp ủy đảng, chính quyền xác định đúng vị trí, vai trò của cán bộ dân tộc Khmer; quan tâm xây dựng đề án cụ thể về đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ và thực hiện tốt các chính sách cán bộ, ở đó sẽ có những cán bộ nòng cốt, động lực quan trọng để lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị trong vùng đồng bào dân tộc.

Bốn là, làm tốt việc phân công, quản lý đảng viên, kết nạp đảng viên là người dân tộc Khmer; chú trọng xây dựng lực lượng nòng cốt ở các ấp còn ít đảng viên; thường xuyên kiểm tra phân tích và có giải pháp thiết thực nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên về phẩm chất, trình độ lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ. Xây dựng được đội ngũ đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, tiên phong gương mẫu là điều kiện quyết định hoàn thành nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng ở vùng đông đồng bào dân tộc.

Năm là, nâng cao vai trò chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của cấp trên trực tiếp cơ sở; phải sâu sát cơ sở, hiểu tình hình cơ sở, giải quyết kịp thời những vấn đề thuộc về chủ trương, chính sách; kịp thời kiểm điểm, xử lý nghiêm minh các vi phạm, mạnh dạn thay đổi những cán bộ chủ chốt ở cơ sở bị hạn chế trong thực hiện nhiệm vụ chính trị nhiều năm liền; hằng năm tổ chức kiểm tra, đánh giá tổ chức cơ sở đảng phải sâu sát, nắm chắc chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở nơi có đông đồng bào dân tộc Khmer và đảng viên người dân tộc Khmer, đề ra các biện pháp nâng cao chất lượng cho phù hợp, rút ra những kinh nghiệm, mô hình tốt để chỉ đạo nhân rộng./.

Nguyễn Thái Bình

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh

PHONG TỤC CƯỚI HỎI CỦA NGƯỜI KHMER




Trang phục cưới của người Khmer

Người Khơ Me coi ngày tổ chức cưới gả con theo lịch tháng của dân tộc. Theo phong tục cổ truyền hôn lễ gồm ba lễ:

1. Lễ Sđây Đol Đông (Lễ nói), đàng trai chọn nét Phlâu Chău Ma Ha (người làm mai) đi cùng đến nhà gái làm lễ nói. Lễ vật gồm : Bánh, trái cây, trầu cau …, mỗi thứ đều là số chẵn.

2. Lễ Lơngmaha (Lễ hỏi), hai nhà thông báo cho thân nhân và lối xóm biết hai đàng đã chính thức là xui gia. Lễ vật nhà trai đem sang nhà gái gồm : 4 nải chuối, 4 chai rượu, 4 gói trà, 4 gói trầu, 2 đùi heo, 2 con gà, 2 con vịt và một số tiền. Trong lễ này, ngày tháng tổ chức đám cưới cũng được hai họ thống nhất.

3. Lễ Thngay Bôs Coltê (Lễ cưới), diễn ra tại nhà gái dưới sự điều khiển của Acha Pô Lia (thầy cúng). Những nghi lễ chính : tiễn đưa chàng rể về nhà gái; dâng cơm cho sư; cắt tóc; lạy ông bà; rắc bông cau; nhập phòng, nghi lễ được thực hiện theo các điệu nhạc múa cổ truyền.
Lễ cưới của người Khơ-me Nam bộ thường tổ chức ngày của tháng đủ (30 ngày). Việc mối mai diễn ra trong lễ ăn hỏi. Nhà trai tìm một bà mối có uy tín, ăn nói hoạt bát, hiểu biết nhiều và là người đã lập gia đình, vợ chồng sống hạnh phúc, đầm ấm, cháu con đầy đủ. Bà mối đến nhà gái dạm hỏi và tìm hiểu ngày tháng năm sinh của cô gái.

Thường, để làm tốt công việc này bà mối phải đến nhà gái 3 lần. Có những gia đình nhà gái yêu cầu sau khi bà mối đến thì phải có 3 ông mối đến nói chuyện với cha cô gái. Sau khi định rõ ngày lành tháng tốt, ông – bà mối cùng đàng trai đem lễ vật đến cúng tổ tiên nhà gái. Lễ vật đặt trên các dĩa bạc hoặc trong các thạp gỗ sơn son thếp vàng. Vị a-cha đọc kinh cầu nguyện cho đôi trai gái thành vợ thành chồng cũng như đọc kinh phù hộ cho họ có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Rồi sau đó chọn người ăn nói vui vẻ đến dự lễ ăn hỏi hầu mang đến niềm vui cho hai họ, nhất là cho cô dâu chú rể. Sau lễ hỏi, chú rể tương lai được phép đến nhà cô dâu để hầu hạ cha mẹ vợ sắp cưới của mình.

Lễ cưới chính thức thường được tổ chức trong 3 ngày khá phức tạp và tốn kém. Tùy theo địa phương nghi lễ có đôi chút khác nhau nhưng những phần cơ bản đều giống nhau. Trước ngày cưới, nhà trai dựng cạnh nhà cô dâu một dãy nhà tạm bằng tre lá. Nhà có ba gian: một gian làm bếp, một gian để đãi tiệc và một gian để các chùm hoa cau.
- Ngày thứ nhất là ngày làm bánh (thường phải có bánh tét và bánh ít) và bày tiệc.
- Ngày thứ hai chú rể và nhiều người khác đến ngồi trong gian nhà đặt hoa cau.
Buổi chiều là lễ cắt tóc. Trong lễ có một ca sĩ vừa hát vừa múa theo điệu nhạc, đi vòng quanh cô dâu chú rể, thỉnh thoảng giơ kéo cắt một vài sợi tóc của hai người. Tục này nhằm cắt bỏ những điều xấu khỏi cuộc đời của đôi trai gái. Trong khi đó các ông lục (sư sãi) ngồi đọc kinh và vẩy nước hoa bưởi cầu phước cho mọi người. Buổi chiều, cha mẹ cô dâu buộc chỉ vào cổ tay cô dâu chú rể, rồi buộc cả cho người thân và bạn bè. Lễ buộc chỉ xong, mọi người cùng nhau vui vẻ dự tiệc. Sang ngày thứ ba, sáng sớm cô dâu lo trang điểm và mặc quần áo cưới. Cô dâu phải mặc quần áo theo kiểu truyền thống, váy bằng lụa, thắt lưng bằng bạc hoặc mạ vàng, khăn quàng thêu kim tuyến quấn lấy thân và vắt sang vai trái. Chú rể có thể mặc quần tây áo sơ-mi. Cô dâu chú rể lạy trước bàn đặt hoa cau rồi ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu bông. Vị a-cha thắp nhang đèn, đọc kinh và lời khấn bằng tiếng Pa-li cầu xin ơn trên ban phước lành cho đôi tân hôn. Sau đó, ông cầm thanh gươm đi với những người mang hoa cau làm lễ Mặt trời. Chú rể cầm quạt che mặt bước lên nhà trong lúc ba tiếng cồng được đánh ngân vang. Em trai hoặc em gái của cô dâu đón chú rể, gởi chăn mền và đưa cho chú rể một miếng trầu. Sau đó chú rể lì xì cho cậu em trai hoặc em gái cô dâu một số tiền nhỏ. Khi vào nhà, chú rể ngồi xuống chiếu, mặt quay về hướng Đông. Trước mặt chú rể đã bày sẵn 3 dĩa hoa cau, xung quanh là các mâm bánh tét, bánh ít, một cái đầu heo luộc và một con gà luộc. Sau khi chú rể kính cẩn lạy mọi người trán chạm xuống chiếu, vị a-cha trao cho chú chùm hoa cau thứ nhất dành tặng cha vợ, chùm thứ hai cho mẹ vợ và chùm thứ ba cho em vợ để tỏ lòng biết ơn những người đã có công nuôi dưỡng, chăm sóc giúp đỡ vợ mình trong thời gian qua. Lễ xong, mọi người chúc mừng đôi tân hôn được trăm năm hạnh phúc, đàn hát ca múa vui vẻ. Sau đó mới thắp đèn cầy xung quanh cô dâu chú rể. Đèn cầy được chẻ làm hai nhánh, người này cầm xong trao cho người bên trái mình. Cứ thế cho đến khi đủ 19 vòng thì tắt đèn cầy. Vị a-cha lấy hoa cau ném cho mọi người xung quanh. Và mọi người cùng ném hoa cau vào nhau để chúc mừng hạnh phúc.

Đến chiều tối, theo tiếng cồng, chú rể bám vào chiếc khăn của cô dâu, cả hai bước vào phòng. Hai vợ chồng ngồi đối mặt nhau mà cô dâu có hai phù dâu ngồi hai bên. Chú rể múc một muỗng cơm đút cho cô dâu. Cô dâu đáp lễ. Cũng làm ba lần như thế là tục ăn chuối. Sau đó, một người phù dâu dùng tay cụng đầu cô dâu vào đầu chú rể, và dặên dò những điều cần thiết theo phong tục tập quán cổ truyền.
Đó là nghi lễ cưới hỏi của người Khơ-me Nam bộ trước đây. Còn hiện nay có một vài nơi đã chế giảm, thậm chí có gia đình còn pha thêm một ít nghi lễ cưới xin của người Hoa và người Việt vào, ở thành thị đã được đơn giản hơn và chỉ tập trung trong chỉ 1 ngày. Tuy nhiên lễ cưới hỏi của người Khơ-me Nam bộ ở nông thôn vẫn còn được lưu giữ nghiêm ngặt theo luật tục cổ truyền.

Theo Báo điện từ Cần Thơ
Dân tộc Khmer


Chùa Khmer Nam Bộ

Dân tộc Khmer có trên một triệu người, cư trú xen kẽ giữa người Kinh, người Hoa và một số dân tộc khác. Địa bàn sinh sống tập trung của đồng bào Khmer là ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, đông nhất là Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh.. Sinh cơ lập nghiệp lâu đời trên vùng đất sông nước, người Khmer Nam bộ dồi dào kinh nghiệm làm lúa nước, thau chua rửa phèn, tạo giống lúa mới thích hợp với nhiều loại đất phèn, đất nước lợ, đất bồi phù sa v.v.

Dân tộc Khmer phần lớn theo đạo Phật, một số ít khác theo đạo Bà La Môn. Thanh niên lớn lên phải xuống tóc đi tu, học giáo lý Phật và học văn hoá trước khi bước vào cuộc sống tự lập của người trưởng thành. Là một dân tộc mộ đạo nên phần lớn các phum, sóc đều có chùa để dân chúng đến tụng kinh, thờ Phật. Ước tính hiện có khoảng 500 chùa ở những nơi có người Khmer sinh sống.Trong mỗi chùa có nhiều sư, đứng đầu là sư cả. Nhà chùa ngoài việc đọc kinh, lễ Phật còn tồ chức dạy chữ Khmer, truyền bá kinh nghiệm sản xuất. Những chùa lớn thường có đội kèn ,trống, đàn, đội ghe ngo. Nhiều lễ hội bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Phật như: Chol Chnam Thmây với nghi lễ tắm tượng Phật bằng nước thơm; Lễ Phật Đản; Lễ đôlta; Lễ hội Ok Om Bok v.v. Chùa Khmer là một thành tố tích cực tổ chức các lễ hội. Chùa đối với người Khmer là sự gắn bó thiêng liêng cả đời người. Khi mới sinh, thầy chùa được mời đến chứng kiến. Lớn lên được tu dưỡng trong tinh thần Phật giáo. Khi chết, người Khmer hoả táng và tro được gửi lên chùa. Chùa trở thành trung tâm tín ngường, cõi thiêng và cũng là nơi sinh hoạt cộng đồng của cư dân Khmer. Phum, sóc, giống như làng bản, là tổ chức truyền thống của cộng đồng. Nhà cửa của người Khmer trước đây là nhà sàn, tuy nhiên qua nhiều thập niên lại đây nhà sàn chỉ còn một số ít dọc biên giới Campuchia. Phần lớn cư dân làm nhà đất giống như người Kinh, người Hoa. Cách sắp đặt, tổ chức nhà ở nhìn bên ngoài có cảm giác không khác gì nhà người Kinh. Nhưng nghiên cứu, tìm hiểu kỹ thì sự bố trí có nhiều điểm riêng, mang đậm tập quán sinh hoạt của người Khmer. Theo chiều ngang của nhà, một nửa là bếp núc và nửa còn lại là nhà ở. Phần này được ngăn đôi theo chiều dọc: Phần phía trước dùng để tiếp khách và bàn thờ Phật. Nửa sau, bên phải là buồng của vợ chồng gia chủ, bên trái là buồng ngủ của con gái. Sự bố trí tuy đơn giản như vậy nhưng không được phép tuỳ ý thay đổi.

Người Khmer tuy sống giữa cộng đồng Việt hàng chục thế kỷ nhưng họ luôn giữ bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc mình, được thể hiện qua chữ viết, lễ hội, trang phục cũng như những sinh hoạt cộng đồng khác. Người Khmer có chữ viết riêng. Ngày nay các em học sinh ngoài học chữ phổ thông, nhà trường vẫn dạy và học chữ viết truyền thống dân tộc. Khi qua đời, người Khmer phổ biến dùng hình thức hoả táng. Trước đây việc hoả tàng thực hiện ngoài đồng, nơi xa dân cư. Sau hoá, một phần tro được để vào thố và đem thờ tự trong chùa. Nhưng ngày nay đã ra đời nhiều lò hoả táng cải tiến, vừa văn minh, tiện lợi lại hợp vệ sinh mà vẫn giữ được nét phong tục lâu đời của dân chúng. Lò hoả táng cải tiến này đã xuất hiện đầu tiên ở Sóc Trăng, do một nhóm chuyên viên kỹ thuật địa phương thiết kế, thi công. Hai huyện Long Phú,Vĩnh Châu, nơi tập trung nhiều đồng bào Khmer nhất tỉnh được chọn làm nơi xây dựng lò hoả táng đầu tiên. Người Khmer vui mừng, coi đây là sự quan tâm chu đáo của chính quyền đối với phần hồn của người dân khi lìa trần. Trang phục truyền thống riêng của người Khmer được bảo tồn qua nhiều thế hệ. Người đàn ông hàng ngày mặc bà ba đen, quấn khăn rằn. Ngày lễ họ mặc áo bà ba trắng, quần đen, quàng khăn trắng quấn chéo vắt lên vai trái. Chú rể trong đám cưới mặc saron, áo ngắn màu đỏ, quàng khăn trắng vắt qua vai trái, đem thêm con dao tượng trưng, ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Nhưng nét riêng trang phục của dân tộc thể hiện rõ rệt hơn ở người phụ nữ. Người phụ nữ Khmer mặc váy dệt bằng sợi tơ ằm. Trong những ngày lễ lớn kéo dài cả tuần, người phụ nữ đi dự lễ, mỗi ngày mặc một chiếc váy màu sắc khác nhau. Ngày cưới cô dâu thường mặc váy, gọi là xăm pôt hoi màu tím sẫm, áo dài tăm ong màu đỏ thẩm, quàng khăn chéo qua người, đội mũ tháp nhọn. Nhưng đó là trang phục mang tính truyền thống và thường được dùng trong những ngày lễ lớn của cộng đồng Khmer. Còn hàng ngày, giữa người Khmer, người Kinh, người Chăm... tuy vẫn giữ nét riêng đặc sắc dân tộc mình, nhưng cũng có nhiều nét pha trộn, học hỏi lẫn nhau, đặc biệt ở lớp trẻ, miễn là đẹp mắt, hợp thời đại và tiện lợi trong sinh hoạt.

Đến với phum, sóc Khmer vào dịp đón tết, bạn phải nhớ ăn mặc đúng trang phục lễ hội . Đêm giao thừa người Khmer làm lễ, dâng bánh trái cây lên chùa. Lễ chùa xong cũng là lúc bình minh chiếu rọi những tia sáng đầu tiên của ngày đầu năm mới. Mọi người tay bắt mặt mừng chúc nhau những điều tốt đẹp nhất. Suốt cả ngày hôm đó dân ấp, trai trẻ vui chơi nhảy múa. Đây là lễ hội Mừng Năm Mới của người Khmer Nam Bộ. Những tiếng hát theo điệu Adây, những điệu múa tập thể Rơmvông, Xaidăm... dập dìu suốt cả ngày tới thâu đêm. Trong bữa cơm năm mới, ngoài các loại bánh quen thuộc như bánh chưng bánh tét, bánh ú, bánh in, v.v. người Khmer không thể thiếu món bún. Món ăn này đặc sắc nhờ vào nồi nước lèo, được nấu từ thịt cá lóc giã nhỏ với nhiều gia vị quen thuộc. Đó là món ăn đặc biệt trong ngày mồng một tết.

Kính Hiền

Kết thúc Chương trình 134 của Thủ tướng Chính phủ: Toàn tỉnh hỗ trợ 5.420 căn nhà và 54 công trình cấp nước sinh hoạt



Tổng kết 4 năm triển khai thực hiện Quyết định 134/TTg của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là Chương trình 134), giai đoạn 2004-2008, toàn tỉnh có 5.420 hộ đồng bào dân tộc thiểu số Khơ-me nghèo được hỗ trợ nhà ở, xây dựng 54 công trình cấp nước sinh hoạt dành cho miền núi và khu vực đặc biệt khó khăn, với tổng giá trị đầu tư trên 51 tỷ đồng, trong đó vốn Trung ương trên 41 tỷ đồng, vốn địa phương và vốn lồng ghép trên 8 tỷ đồng.

ông Võ Thanh Liêm, Trưởng ban Dân tộc tỉnh An Giang cho biết, những hộ thụ hưởng Chương trình 134 của Thủ tướng Chính phủ đã có nhà ở ổn định, tập trung vào việc chăn nuôi và sản xuất, tăng thu nhập kinh tế gia đình và từng bước thoát nghèo. Đặc biệt, 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên giảm bớt tình trạng khan hiếm nước mùa khô, nay được cung cấp nước sạch phục vụ sinh hoạt và đời sống đồng bào trong các phum, sóc.



TRỌNG ÂN

Đoàn tướng lĩnh quân đội hoàng gia Campuchia: Thăm và chúc mừng năm mới lực lượng vũ trang tỉnh An Giang



Nhân hội nghị quân chính triển khai nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương 2009, đoàn tướng lĩnh quân đội Campuchia do Đại tướng Sam-Réth-Đy, Phó Tư lệnh Lục quân Quân đội Hoàng gia Campuchia dẫn đầu đã đến thăm và chúc mừng năm mới lực lượng vũ trang (LLVT) tỉnh An Giang.

Tại Bộ Chỉ huy Quân sự (CHQS) tỉnh, Thiếu tướng Lê Trung Hiếu, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh và Đại tá Bùi Thanh Châu, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh An Giang nồng nhiệt đón tiếp đoàn. Ngài Đại tướng Phó Tư lệnh Lục quân Campuchia cùng với các thành viên trong đoàn đều thể hiện niềm vui và chúc mừng những thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh An Giang, đặc biệt là những kết quả thắng lợi trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương năm 2008 của LLVT tỉnh An Giang. Ngài Đại tướng khẳng định: Nhân dân và LLVT Campuchia luôn ghi ơn sự giúp đỡ chí tình trên tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng của quân tình nguyện Việt Nam, trong đó có LLVT tỉnh An Giang đã cứu giúp nhân dân Campuchia thoát nạn diệt chủng, xây dựng quân đội cách mạng lớn mạnh, đất nước Campuchia ngày càng phát triển. Nhân dịp năm mới 2009, ngài Đại tướng Phó Tư lệnh Lục quân Campuchia chúc lãnh đạo, nhân dân và LLVT tỉnh An Giang hạnh phúc, thắng lợi mới.
Thay mặt Bộ CHQS tỉnh An Giang, Thiếu tướng Lê Trung Hiếu bày tỏ cảm ơn đối với những lời chúc mừng của ngài Đại tướng Phó Tư lệnh Lục quân Campuchia và những tình cảm tốt đẹp mà các thành viên trong đoàn đã dành cho LLVT tỉnh An Giang. Dịp này, Thiếu tướng Lê Trung Hiếu bày tỏ sự cảm ơn đối với chính quyền, nhân dân và LLVT các tỉnh Tà Keo, Cần Đal, Kompongspeu và một số địa phương khác những năm qua đã có nhiều hỗ trợ tích cực giúp Đội K93 thuộc Bộ CHQS tỉnh An Giang thực hiện tốt công tác tìm kiếm, cất bốc, quy tập hài cốt quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trong các thời kỳ trước đây trên đất Campuchia nay được đưa về nước an toàn. Sang năm mới, Thiếu tướng Lê Trung Hiếu, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh An Giang trân trọng gởi lời chúc tốt đẹp đến ngài Đại tướng và các thành viên trong đoàn; chúc tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân và LLVT hai nước Việt Nam-Campuchia ngày càng bền vững.



VĂN TRANH