Thứ Hai, 11 tháng 1, 2010

CHÙA SÊRÂYTÊCHÔ-MAHATUP (CHÙA MÃ TỘC - CHÙA DƠI)

Chùa Dơi tên thật là Wathserâytêchô - Mahatup (phiên âm từ tiếng Khmer). Về sau đồng bào Kinh và Hoa đọc trại từ Mahatup thành “Mã Tộc”. Cho nên cũng có nhiều người gọi là: “Chùa Mã Tộc”. Ngoài ra dân gian còn gọi là chùa Dơi bởi vì trong chùa này có nhiều dơi.

Từ “Mã Tộc” cũng chính là địa danh (tính từ ngã ba đường cho đến lối rẽ vào Chùa Dơi) coi như là một làng nhỏ. Dân cư ở đây gồm 3 dân tộc (Kinh, Hoa, Khmer) cùng sinh sống.

Chùa Dơi là một tổng thể kiến trúc gồm có: Ngôi chánh điện, Sala, nhà hội của sư sãi và tín đồ, phòng ở của sư sãi và trụ trì, các tháp để tro người chết, phòng khách… Toàn bộ các công trình toạ lạc trong một khuôn viên rộng có nhiều cây cổ thụ, diện tích khoảng 04 hecta.

Chùa Dơi nằm trong địa bàn thành phố Sóc Trăng, thuộc khóm 9, phường 3, thành phố Sóc Trăng. Đông giáp khu dân cư, Tây giáp khu dân cư, Nam giáp đồng ruộng, Bắc giáp lộ Mai Thanh Thế tiếp giáp đường Lê Hồng Phong, thành phố Sóc Trăng.

Theo người Khmer, Mahatup là trận kháng cự lớn (Tup: kháng cự; Maha: lớn). Nơi đây đã diễn ra một trận đánh ác liệt của phong trào nông dân nổi dậy chống bọn phong kiến ngày xưa. Sau trận đánh đó, dân chúng tản cư trở về sinh sống, họ cho rằng vùng đất này có điềm lành (đất lành) nên xây chùa thờ Phật. Bởi họ cần có một đấng tối cao che chở - vì các trận đánh của phong trào nông dân ở những nơi khác đều bị thất bại, nhưng ở nơi đây trận chiến diễn ra ác liệt nhưng họ đã giành chiến thắng.

Chính điện chùa Dơi đã được xây dựng lại. Ảnh: N.H

Theo thư tịch cổ của Chùa còn để lại có ghi chép: Chùa được khởi công xây dựng vào từ năm 1569 dương lịch, cách nay 440 năm. Do ông Thạch Út đứng ra xây dựng. Từ trước đến nay chùa được trùng tu nhiều lần, năm 1960 Chùa sửa chữa lớn ở chánh điện, đến năm 2008 chùa bị cháy chánh điện. Vào tháng 4 năm 2009, chánh điện chùa đã được phục chế lại như cũ.

Kiến trúc Chùa Dơi cũng giống như bao kiến trúc Chùa Khmer khác ở Đồng bằng sông Cửu Long. Về họa tiết trang trí, điêu khắc, hội họa mang sắc thái văn hoá Khmer cổ.

Theo lời kể của các già làng về lịch sử hình thành của Chùa đã trải qua 19 đời Đại Đức. Các văn bản còn lại, được ghi trên lá thốt nốt, trải qua nhiều năm tháng đã bị mục nát và chỉ còn lại một số, cho đến hiện nay chỉ biết được 08 đời Đại Đức sau này (từ đời thứ 12 đến đời thứ 19):

- Đời thứ 12: Ông Lâm Men.

- Đời thứ 13: Ông Tham.

- Đời thứ 14: Ông Ngô Sển.

- Đời thứ 15: Ông Sâm.

- Đời thứ 16: Ông Lét.

- Đời thứ 17: Ông Thạch Chia.

- Đời thứ 18: Ông Thạch Kiều Đốc.

- Đời thứ 19: Ông Kim Rên.

Đặc biệt là loài Dơi ở đây rất nhiều cùng với các đời Đại Đức tồn tại cho đến ngày nay.

Như lời kể của các già làng thì loài Dơi sống nơi đây từ trước đến lúc bắt đầu xây dựng Chùa. Theo một số người Khmer đặc tả loài Dơi ở đây như sau:

Dơi là họ thú có cánh bay, những con lớn nặng từ 700 - 1.000g, cánh của chúng căng về hai phía dài từ 1,1 m -1,5 m, tốc độ bay nhanh nhất từ 50-60 km/h. Dơi có một số đặc điểm khác với loài Chim, Dơi là động vật có vú, vú nằm hai bên nách cánh, có mỏ giống như loài chó Phóc, miệng có răng rất bén để gặm nhấm. Thức ăn của Dơi là trái cây, không ăn lúa hay thịt cá. Dơi đi ăn vào ban đêm, ban ngày thì ngủ. Theo thường lệ hằng năm, bước vào mùa khô, thời tiết nóng nực, thiếu nước, trái cây ít, điều kiện sinh sống khó khăn, chúng thường tổ chức đi ăn ở xa, những nơi có nhiều trái cây và nước ngọt. Đôi khi chúng đi tìm thức ăn ở quá xa, không thể bay về Chùa trước lúc bình minh, Dơi phải ngủ lại nơi đó, và đường về được tiếp nối từng chặng đường của tối hôm sau. Những lúc thời tiết như thế thì đàn Dơi chỉ còn lại ở Chùa 1/3 đàn để giữ chỗ. Khoảng cuối tháng tư, khi thời tiết thay đổi, tiếng sấm đầu mùa mưa báo hiệu, lác đác đây đó mưa rơi, cây trái phát triển, dơi thay màu lông. Lúc đó dơi quay về Chùa chuẩn bị cho mùa sinh sản. Từ đó, bà con xung quanh vùng xem chu kỳ sinh sản của Dơi như thời điểm vào mùa - họ chuẩn bị giống má, đắp bờ, nhổ cỏ, cày ải, cuốc bẩm chờ mưa để gieo hạt.

Dơi không ấp trứng như loài chim khác, nên chúng không xây tổ. Dơi có hai chân, mỗi bàn chân có 5 ngón và có móc nhọn cong như móc câu, trên bả vai mỗi cánh có một lưỡi móc, chúng không đứng đậu như những loài chim khác, mà dùng hai chân móc lấy cành cây quay lộn đầu xuống treo mình lủng lẳng, kết lại với nhau như những chùm trái cây, lúc nào muốn thải phân hay nước thải chúng dùng sức bật mạnh hai phía cánh tung thân lên, mở móc cánh cấu chặt cành cây giữ thăng bằng và bắt đầu tuôn nước thải hoặc phân xuống, khi xong chúng lại trở lại trạng thái bình thường.

Dơi sinh sản vào đầu tháng năm dương lịch, khi sắp đẻ thì một cánh móc lấy nhánh cây, một cánh đỡ lấy con ôm vào lồng ngực. Đẻ xong vài giờ dơi con bắt đầu mở mắt, lúc đó chúng đã biết đói, bú mẹ như chó con mới lọt lòng và trong đêm đó dơi mẹ vẫn đi kiếm ăn bình thường, con chúng mang theo, ôm ghì sát vào lồng ngực. Dơi con lớn rất nhanh, hơn một tháng tuổi chúng đã biết nắm níu nhánh cây, đồng thời cánh của chúng cũng bắt đầu mọc và mở rộng ra, sức nặng dơi con tăng dần lên. Lúc này, dơi mẹ không còn đủ sức để mang con nữa và tập cho dơi con nắm níu nhánh cây rồi để chúng ở lại, không mang theo khi Dơi mẹ đi ăn. Với bản năng sẵn có, dơi con tập chuyền từ nhánh cây gần đến nhánh cây xa, qua tập luyện nhiều lần, chúng từ từ biết vỗ cánh để bay. Chuyến bay đầu tiên của chúng nhằm từ cây thấp, khoảng cách vài ba mét, đến lúc vững vàng thì bay sang ngang và bay cao hơn. Chúng tập bay ban đêm chứ không tập bay ban ngày, nhất là những đêm trăng sáng, chúng tập bay đan xen nhau trông rất đẹp. Thỉnh thoảng trong lúc tập bay có một vài con bị rơi xuống đất không bay lên được, chúng lê tìm nơi nào có cây cao, dùng móc cánh ở bả vai câu chặt nhánh cây và dùng sức mạnh của hai cánh đưa hai chân câu chặt nhánh cây, sau đó chúng buông thòng trúc đầu xuống, dồn sức bật mạnh, mở rộng hai cánh bay đi. Còn khi dơi mẹ xuống cứu con bị rớt xuống đất, một cánh chúng ôm ghì chặt lấy con áp vào lồng ngực, một cánh chống xuống đất bò nghiêng, cố tìm đến nơi có cây cao để cất cánh.

Dơi cũng biết yêu thương nhau, nhất là dơi mẹ. Trước khi đi ăn dơi mẹ cho con bú và lúc trở về chúng đều nhớ đem mồi về cho con. Sau thời gian chào đời và tập luyện, bước vào tháng thứ 3 dơi con bắt đầu biết bay, nhưng không đủ sức đi ăn xa, dơi mẹ dẫn con đi ăn những nơi gần. Nhờ sự ôm ấp chăm sóc của dơi mẹ, dần dần dơi con bắt đầu trưởng thành gia nhập vào bầy đàn một cách nhanh chóng, cứ thế đàn dơi ngày càng được bổ sung. Hiện nay không ai tính được đàn dơi của “Chùa Dơi” này có bao nhiêu con, chỉ ước lượng khoảng vài vạn con, dơi sinh sản thì thấy, nhưng tuổi thọ của chúng được bao lâu thì không ai theo dõi và biết được chính xác, vì chúng không trở về đầy đủ. Thỉnh thoảng các nhà sư phát hiện thấy lác đác có vài con bỏ xác, có thể do con người săn bắt và làm chúng bị thương, kiệt sức mà chết; hoặc cành cây bị gãy bất thình lình, những con không may đập đầu vào vật cứng mà chết.

Phù điêu trạm trổ ở chùa Mahatúp. Ảnh:N.H

Dơi có phản xạ rất kỳ diệu, chúng có khả năng tiếp nhận, dự đoán được qua những tín hiệu, hiện tượng nào đó có thể xảy ra gây nguy hiểm đến sinh mạng của mình, dơi là động vật sống có nề nếp, có bầy đàn.

Khi đi kiếm ăn, dơi đầu đàn bay lên dẫn đầu, sau đó là những con Dơi khác lần lượt bay theo nhập đàn, chúng vừa bay vừa xếp hàng, lượn vài vòng trên bầu trời khu vực Chùa, như cầu khẩn đức Phật ban phước lành trước khi đi kiếm ăn. Quang cảnh hoàng hôn ở “Chùa Dơi” rất rộn ràng, chi chít tiếng dơi gọi đàn, xào xạt tiếng vỗ cánh va chạm vào cành cây, tạo nên không khí khẩn trương; từng đàn dơi lượn bay trên bầu trời hoàng hôn, sau vài lần lượn bay chúng dần dần lẫn vào bóng đêm, chúng bay theo hướng đã định, bay theo đường nào thì về đường ấy. Khi thời tiết tốt thì dơi bay cao, thời tiết xấu thì dơi bay thấp. Dơi đi ăn suốt cả đêm đến bình minh thì trở về, dơi không bao giờ bay qua nóc ngôi chánh điện (lúc đi cũng như lúc về). Đặc biệt hơn là dơi chỉ đậu trên những tán cây của khuôn viên Chùa, những tán cây bên ngoài khu dân cư sát ngay Chùa thì chúng không đậu; sự việc trên được các sư giải thích: Đó là chuyện thường thôi, vì trong khuôn viên của Chùa quang cảnh yên tịnh, con dơi thích nghi với môi trường hoang dã gần gũi với thiên nhiên, còn bên ngoài bị vây đuổi, săn bắt nên nó không trú ngụ và có một điều mà không ai lý giải được là dơi không ăn trái cây vùng lân cận cũng như trái cây trong khuôn viên Chùa, mà phải đi ăn rất xa.

Từ những hiện tượng gần như là huyền bí của đàn dơi ở “Chùa Dơi”, tiếng đồn vang xa, khách thập phương ai cũng muốn tới viếng thăm để tận mắt chứng kiến. Từ thời chiến tranh chống Mỹ “Chùa Dơi” đã vang tiếng với những điều huyền bí , cho nên khuôn viên Chùa lúc ấy cách ly với cảnh sinh hoạt bên ngoài. Vì vậy, cán bộ của ta thường lui tới hoạt động cách mạng.

Cho đến ngày nay “Chùa Dơi” rất nổi tiếng, vì phong cảnh hữu tình, gần gũi với thiên nhiên, có quần thể kiến trúc tôn giáo chính thống của dân tộc Khmer và bầy dơi huyền bí (theo quan điểm tín ngưỡng của từng dân tộc) đã thôi thúc khách tham quan đến viếng Chùa ngày càng đông đúc.

Theo quan niệm của người Hoa thì con dơi là điềm phúc, còn gọi là phước; phúc (phước) của người Hoa là: “Phước-Lộc-Thọ”. Trong đó, ông Phúc (Phước) ứng với con dơi, ông Lộc ứng với con nai, ông Thọ ứng với cây Tùng, cho nên người Hoa xem hình tượng con dơi như là phúc (phước). Nhưng con dơi ở “Chùa Dơi” đậu quay đầu ngược xuống đó là chữ phúc (phước) treo ngược, là: “Phú táo” tiếng phát âm của người Hoa (tức là: “Phúc đáo” nghĩa là phúc đến rồi). Vấn đề này cũng được ông Trần Bình viết bài đăng trên “Kiến thức ngày nay” (Xuân Quý Dậu năm 1993 trang 62-63). Cho nên khách tham quan phần nhiều là người Hoa, người Hoa ở Sóc Trăng cũng quan niệm như thế.

Năm 1990 chiếc tàu thám hiểm đại dương, do ông YVES.COUS TEAUX là thuyền trưởng và con ông là JACK COUS TEAUX đã đến chùa Dơi để nghiên cứu về động vật sống trong môi trường thiên nhiên. Ông COUS TEAUX đã cho máy bay trực thăng bay đảo trên những tán cây trong khuôn viên chùa, đàn dơi bay lên rợp cả một góc trời, đoàn nhân viên của ông YVER COUS TEAUX đã ghi hình ảnh bằng camera và máy ảnh để làm tài liệu nghiên cứu.

Đây cũng là một sự kiện lạ mà không ở chùa nào có được, heo năm móng và dơi là những động vật rất gần gũi với chùa, dơi không những treo mình trên cây mà còn được các vị sư chăm sóc và thuần hóa. Khoảng năm 1980 vị Đại Đức đời thứ 17 là ông Thạch Chia có tài nuôi và thuần chủng dơi, dơi luôn quấn quít bên ông như những chú chó, chú mèo mà người ta thường nuôi trong nhà. Đặc biệt là khi ông đi vắng, dơi ở lại phòng khách của ông.

Đến khuôn viên chùa, ta nhìn thấy cổng chùa về hướng Tây - Bắc, cổng chùa được xây dựng theo kiến trúc tôn giáo trang trí các hoạ tiết các hoa văn hình cánh sen và hoa cà ri cách điệu.

Công trình kiến trúc tiêu biểu trong quần thể kiến trúc “Chùa Dơi” là ngôi chính điện. Ngôi chính điện được xây dựng từ năm 1569 bằng gỗ, trên mái được lợp lá dừa nước, từ trước đến nay chùa được trùng tu nhiều lần. Đặc biệt, năm 1960 ngôi chính điện được thay đổi toàn bộ chất liệu, Bê tông đã thay thế gỗ, mái ngói thay lá dừa nước. Chiều dài 20 m 8, chiều rộng 11 m 3; ngôi chính điện được xây dựng trên nền cao hơn mặt đất tự nhiên 1 m bao quanh là đá kết xi-măng nền rộng 30 m 7, dài 37 m. Sân chính điện được trát xi-măng, có vòng rào lan can và 04 ngõ vào. Vòng rào lan can cách ngôi nhà chính điện mỗi hướng là 2 m 20. Nền chính điện cao hơn sân chính điện 0,7 m. Mặt bằng chính điện hình chữ nhật trải dài theo hướng Đông Tây. Cửa chính quay ra hướng đông. Phần mái chính điện là một kết cấu đặc biệt, gồn 04 hệ thống mái chồng lên nhau, với khoảng cách nhất định. Trên 04 mái chồng lên nhau đều có trang trí hình tượng con rồng ở các góc. Hình tượng rồng của người Khmer khác với người Hoa và người Việt, đầu rồng có sừng uốn lượn, mảnh mai, thân rồng theo mô típ của loài cá Poon - Co, nên rồng không có chân, trên lưng giương những đao mác nhọn, cong về phía đuôi, hình tượng rồng được bố trí theo chiều dài đòn dong. Mái tiếp giáp với cột trang trí hình tượng chim Cay - No, thể hiện sức mạnh như chống đỡ cả bầu trời và che chở cho con người ở trần gian. Bên trong chánh điện có tượng Phật sơn son thiếp vàng, cao khoảng 2m, trên bệ thờ cao khoảng 1,5m được đắp nổi nhiều hoa văn hình cánh sen. Ngoài tượng Phật lớn còn có nhiều tượng Phật nhỏ khác.

Trên bệ thờ được làm bằng gỗ sơn son thiếp vàng, trang trí hoa văn hình chim muông, hoa lá theo mô típ đình, chùa truyền thống của người Việt.

Đặc biệt phía dưới bệ thờ ở hai bên tượng Phật có hai họa tiết hình con dơi đối xứng nhau. Trần chính điện được trang trí bằng những mảng tranh sơn dầu hình tiên nữ đang múa trên bầu trời, làm tăng thêm phần sinh động và trang nghiêm cho nội thất.

Đối diện với ngôi chính điện về hướng Tây là dãy nhà Sa - La (nhà hội của sư sãi), phòng của sư trụ trì, phòng khách và rải rác xung quanh ngôi chính điện là những tháp đựng cốt tro người chết, mỗi tháp mang dáng kiểu khác nhau. Nhìn chung toàn bộ quần thể kiến trúc cân đối nhau một cách hài hoà, làm chúng ta liên tưởng đó là cả một rừng hoa văn với những bố cục hài hoà, gọn gàng, những đường nét uyển chuyển đầy ấn tượng… toát lên tinh thần lao động cần cù và sáng tạo qua đôi bàn tay khéo léo của người Khmer.

Xung quanh quần thể kiến trúc của chùa là những tán cây cổ thụ, được các vị sư săn sóc hàng ngày, để khách đến tham quan và chiêm ngưỡng những chú dơi treo mình lủng lẳng trên các nhánh cây trong khuôn viên chùa, du khách cứ ngỡ ngàng tưởng như cây trái trúng mùa với những chùm quả nặng trĩu. Không khí mát mẻ, thanh tịnh chỉ có tiếng gió xào xạc và thỉnh thoảng xen vào tiếng kêu chí chít của những chú dơi con tìm mẹ… Tất cả tạo thành một bản hoà tấu với nhạc điệu du dương của thiên nhiên làm say mê lòng người.

Hiện nay, các hiện vật trong chùa dơi còn chủ yếu là tượng các Phật như: tượng Phật Thích Ca ngồi thiền định cao 2 m bằng xi-măng và nhiều bức tượng nhỏ khác bằng xi-măng và vật liệu khác do phật tử cúng chùa. Ngoài ra còn có khung cửa võng (bao lam) bằng gỗ sơn son thiếp vàng chạm trổ hình chim muông, hoa lá, đặc biệt có hoạ tiết hình những chú dơi; một cái giường chạm hoa lá tinh sảo, sơn son thiếp vàng; hai tủ lớn có chạm hoa văn theo mô típ cổ truyền của người Khmer. Đặc biệt hơn cả là trong sảnh của đại dức trụ trì và phòng khách còn có bức tượng của một đại đức đã viên tịch, với kích thước giống y như người thật trong tư thế thiền định làm bằng xi-măng đã làm cho gian phòng khách ấm cúng và sinh động, hấp dẫn.

Chùa Dơi với quần thể kiến trúc đẹp, có giá trị thẩm mỹ cao. Ngoài chức năng thoả mãn nhu cầu sinh hoạt của đời sống tâm linh, còn hướng con người đến chân - thiện - mỹ, làm điều hay lẽ phải, làm việc thiện, tích phúc cho đời. Ở đây chúng ta thấy rõ nghệ thuật tạo hình Khmer đồng bằng sông Cửu Long, trong đó chùa Dơi là một minh chứng, mang tính tôn giáo. Nhưng Phật giáo Nam tông trong xã hội Khmer hiện nay không phải là tôn giáo thoát tục, lánh xa cuộc đời mà hoà nhập vào cuộc sống đời thường với phương châm “tốt đạo, đẹp đời”.

Cái đẹp và sức thu hút của Chùa Dơi là cảnh quan gần gũi với thiên nhiên, với một quần thể kiến trúc mở, hoà quyện với môi trường sống của con người - thực vật - động vật nơi đây đã gắn bó với con người từ lâu đời. Hơn nữa, cộng đồng dân cư ở đây có sự giao lưu giữa ba dân tộc Việt - Khmer - Hoa kết hợp với tinh hoa văn hoá, nghệ thuật trong cuộc sống, học hỏi lẫn nhau cùng phát triển. Ngoài ra, Chùa Dơi còn là trung tâm sinh hoạt giáo dục - văn hoá và các lễ thức cúng kiếng, lễ hội của đồng bào Khmer, vừa là tụ điểm sinh hoạt văn hoá của cộng đồng cư dân địa phương. Ngày 12 tháng 02 năm 1999, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ra Quyết định số 05/1999/QĐ-BVHTTcông nhận Chùa Dơi là di tích nghệ thuật cấp quốc gia.

Chùa Dơi là một môi trường sinh thái kết hợp hài hoà giữa thiên nhiên, văn hoá và cuộc sống đời thường. Chùa còn là một thắng cảnh, một địa điểm du lịch, tham quan và hành hương viếng Phật nổi tiếng của du khách trong và ngoài tỉnh. Danh lam thắng cảnh Chùa Dơi Sóc Trăng sẵn sàng đón khách thập phương ghé thăm và chắc hẳn làm chuyến đi của du khách thêm nhiều bất ngờ, thú vị… xin bạn hãy nhanh chân.

(SƯU TẦM)


Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2010

Lễ Sen Dolta - Nét đẹp tín ngưỡng Khmer Nam bộ

Cũng như lễ Vu Lan báo hiếu của đồng bào dân tộc Kinh, đồng bào Khmer Nam bộ có ngày Lễ Sen Dolta để ghi nhớ công ơn sinh thành nuôi dưỡng của ông bà, cha mẹ vào các ngày từ 29/8 đến 1/9 âm lịch hằng năm. Đây là một trong 4 lễ hội lớn trong năm của đồng bào Khmer cùng với Tết Chôl Chnăm Thmây, 0oc 0om bok và Lễ dâng Bông.


Năm 2009, do "nhuận hai tháng 5 nên Lễ Sen Dolta được tổ chức từ ngày 16 - 18/9 (tức ngày 28/7 - 30/7 âm lịch).

Lễ Dolta ngày nay không đơn thuần là hình thức tín ngưỡng Phật giáo mà đã trở thành nét văn hóa đặc trưng trong đời sống tinh thần của đồng bào Khmer Nam bộ. Theo ông Châu Kim Sêng, Phó Ban Dân tộc tỉnh An Giang cho biết, tập tục ngày nay đơn giản hơn.

Từ ngày 16/7 - 30/7 (âm lịch), các gia đình người Khmer Nam bộ đều tập trung vào chùa để nghe kinh Phật và cúng linh vị tổ tiên đã gửi vào đây. Các gia đình người Khmer còn kết bè bằng cây chuối, dâng lễ vật lên bè thả trôi trên dòng sông, rạch để cúng những người đã khuất.

Lễ Dolta không hình thức phô trương. Những món ăn thân thiết, gần gũi với đời thường như trái cây vườn nhà, sản vật chợ quê, nếp thơm dẻo được bàn tay khéo léo của phụ nữ Khmer chế biến thành thức ăn truyền thống như bánh tét, bánh nếp, bánh ít dâng lên bàn thờ cúng tổ tiên.

Con cháu các hộ Khmer còn chuẩn bị các thức ăn, lễ vật có ý nghĩa dâng lên ông bà, cha mẹ còn sống để tỏ lòng hiếu kính.

Những ngày Lễ Dolta tại các chùa Khmer còn tổ chức nhiều hoạt động biểu diễn các loại hình nghệ thuật như hòa nhạc ngũ âm, hát dì kê, múa các điệu múa Ramvong, dân tộc truyền thống… để nhân dân vui chơi, mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc của đồng bào Khmer Nam bộ.
Dịp này, lãnh đạo Đảng, chính quyền và đoàn thể các địa phương tỉnh An Giang có đông đồng bào dân tộc Khơ-me sẽ đến gặp gỡ, thăm các chùa Khơ-me và một số gia đình tiêu biểu trong phum, sóc. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh An Giang cũng đến thăm và chúc mừng các vị sư sãi ở chùa Nam Quy (xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn), chùa Ba Xoài (xã An Cư, huyện Tịnh Biên), chùa Vĩnh Thành (xã Vĩnh Thành, huyện Châu Thành) , chùa núi Ba Thê (thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn)...
Ngoài các hoạt động văn hóa nghệ thuật tại các chùa tỉnh còn tổ chức Lễ hội đua bò Bảy Núi.

Năm nay, tỉnh An Giang tổ chức "Lễ hội đua bò Bảy Núi mở rộng lần thứ 18" tại xã Vĩnh Trung (huyện Tịnh Biên), tham dự có 72 đôi bò của đồng bào Khmer thuộc huyện Tri Tôn, Tịnh Biên (An Giang) và huyện Hòn Đất (tỉnh Kiên Giang) vào ngày hôm nay 18/9/2009.

Tại Sóc Trăng, trong ba ngày 18, 19 và 20/9/2009, cùng với gần 1,3 triệu người dân Khmer Nam bộ, gần 380.000 người dân Khmer Sóc Trăng sẽ đón lễ Đôl Ta cổ truyền trên tinh thần đoàn kết- vui tươi- phát triển.

Lễ Đôl Ta năm nay, các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể Sóc Trăng thực hiện tốt việc chăm lo đời sống vật chất và văn hóa tinh thần cho đồng bào Khmer, nhất là các gia đình thuộc diện chính sách, các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, tạo điều kiện để mọi người cùng vui đón lễ một cách an toàn, tiết kiệm, vui tươi.

Trong những ngày lễ, các địa phương trong tỉnh có nhiều hoạt động như: Tổ chức biểu diễn văn nghệ phục vụ đồng bào Khmer vùng sâu; gắn công tác phục vụ văn hóa văn nghệ với tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tổ chức 10 đoàn thăm hỏi tặng quà, tiền cho cả 92 ngôi chùa Khmer trong tỉnh và các gia đình chính sách, mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang, gia đình có công, hộ nghèo, neo đơn…

Đôl Ta là lễ cúng ông, bà của đồng bào Khmer.

Nguồn: TTXVN


Thấm dần con chữ Khmer

Sóc Trăng có 377.000 người dân tộc Khmer, chiếm gần 29 phần trăm dân số của tỉnh, đông nhất vùng ĐBSCL. Việc học của bà con Khmer được quan tâm và hiện đã mở rộng nhiều trường lớp dạy song ngữ Khmer-Việt.
Việc học được đặt lên hàng đầu
Giờ tự học ở trường THPT Dân tộc Nội trú Sóc Trăng Ảnh: Xuân Lương
Đồng bào dân tộc Khmer, xã Đại Tâm (Mỹ Xuyên, Sóc Trăng) còn nghèo, hơn 80 phần trăm dân số là người Khmer nhưng việc học của con em họ luôn được coi trọng. Hiện, Đại Tâm đã có hàng trăm người Khmer là giáo viên, kỹ sư, bác sỹ, chủ doanh nghiệp.
Phó Chủ tịch UBND xã Ngô Quang Thế tâm sự: “Trước đây bà con Khmer thường suy nghĩ, không có cái ăn mới chết, không có cái chữ chẳng sao, nhưng bây giờ khác lắm rồi. Mọi người đã đặt việc lo cho con học hành lên hàng đầu. Toàn xã hiện có hơn 400 học sinh Khmer thi đậu vào các trường cao đẳng, đại học”.
Gia đình ông Diệp Tấn Phường ở ấp Đại Chí là một trường hợp tiêu biểu. Ông làm ruộng, vợ ông đẩy xe bán bánh mì, nhưng ba người con của ông đều được ăn học thành đạt.
Cô con gái đầu Diệp Thị Ngọc Thanh đã tốt nghiệp Đại học Sư phạm, hiện là Phó hiệu trưởng trường THPT Lê Lợi (TP Sóc Trăng); cô tiếp theo Diệp Thị Ngọc Thương, tốt nghiệp Đại học Cần Thơ, kỹ sư hóa học, công tác tại nhà máy bia Sài Gòn-Sóc Trăng; cậu út Diệp Minh Hoàng, tốt nghiệp Đại học Tài chính, công tác tại Ngân hàng Công thương Chi nhánh Sóc Trăng.
Gia đình ông Hứa Trung Hải ở ấp Tâm Trung, bán 20 công ruộng để lo cho hai người con lớn tốt nghiệp đại học. Gia đình ông Chung Hữu Duyên, cha chạy xe lôi, mẹ làm ruộng nuôi bốn người con học đại học. Gia đình ông Lâm Ươl ở ấp Đại Nghĩa Thắng có sáu người con đều đã học đại học.
Tiến dần đến phổ cập song ngữ
Trong hệ thống giáo dục chung, năm học 2009-2010 này, Sóc Trăng có trên 68.000 học sinh dân tộc Khmer ở 152 trường từ mầm non đến THPT, học song ngữ Việt – Khmer. Hệ thống trường dân tộc nội trú có 1.500 học sinh ở một trường THPT tại TP Sóc Trăng và sáu trường THCS ở các huyện Vĩnh Châu, Thạnh Trị, Kế Sách, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên và Long Phú.
Sóc Trăng còn có Trường Bổ túc văn hóa Pali trung cấp Nam bộ, hàng năm đào tạo văn hóa và đào tạo giới nghiệp cho trên 100 sư sãi ở các tỉnh ĐBSCL. Tại 92 chùa Khmer trong tỉnh, cũng thường xuyên tổ chức các lớp dạy chữ Khmer miễn phí.
Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết Khmer được chính quyền, phụ huynh học sinh quan tâm nên số lượng người học, biết chữ Khmer ngày càng tăng. Giáo viên dạy chữ Khmer được hưởng chính sách ưu đãi, phụ cấp thêm 50 phần trăm lương.
Học sinh Khmer được miễn học phí, muợn sách giáo khoa, cấp dụng cụ học tập. Với học sinh ở các trường dân tộc nội trú được nhà nước lo toàn bộ việc học hành, ăn, ở.
Toàn tỉnh đã có 3.070 giáo viên Khmer, chiếm hơn 24,1 phần trăm tổng số giáo viên. Trường Cao đẳng Sư phạm của tỉnh hàng năm tổ chức các khóa đào tạo giáo viên dạy hai thứ chữ, tạo nguồn bổ sung giáo viên cho các trường trong tỉnh.
Ông Trần Việt Hùng, GĐ Sở GD&ĐT Sóc Trăng, cho biết, năm học 2008-2009 vừa qua, sở tổ chức kiểm tra trên 6.600 học sinh, kết quả có 98 phần trăm học sinh được công nhận đạt trình độ tiếng Khmer.

Học sinh người Khmer ở Sóc Trăng được xét tuyển vào các trường đại học ngày càng tăng. Từ năm 2001 đến nay có 962 người được cử tuyển vào các trường đại học.

Xuân Lương (TPO)

Hơn 90% hộ dân đồng bào Khmer được dùng điện lưới quốc gia

LĐ) - Công ty Điện lực 2 (thuộc Tập đoàn Điện lực VN-EVN) đang triển khai việc xây dựng mới và nâng cấp lưới điện tại các vùng đồng bào dân tộc Khmer hiện chưa có điện tại 2 tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng, theo chỉ đạo của Chính phủ.

Theo tiến độ thực hiện, trong năm 2010 sẽ có khoảng hơn 40.000 hộ dân, trong đó trên 30.000 hộ là đồng bào Khmer có đời sống khó khăn, thu nhập thấp sẽ được ngành điện đưa điện đến tận nhà.

Ấp An Nhơn, xã Thới An Hội, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng có khoảng 50 hộ dân đồng bào Khmer, chủ yếu làm nghề nông, nhiều hộ nghèo phải đi làm thuê với mức thu nhập thấp.

Từ tháng 10.2009, Chi nhánh Điện lực Kế Sách đã triển khai lắp đặt lưới điện hạ thế, lắp côngtơ đo đếm điện tới tận hộ dân khiến người dân vô cùng phấn khởi vì được sử dụng điện sinh hoạt.

Theo Điện lực Sóc Trăng, đồng bào Khmer chiếm tới 50% sinh sống tại 2 tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng, hiện tỉ lệ hộ Khmer nghèo ở Trà Vinh là 48,3% và Sóc Trăng là 51,7%. Tỉ lệ số hộ dùng điện tại Trà Vinh và Sóc Trăng tính đến 5.2008 tương ứng là 87 và 87,7%, thì trong đó số hộ Khmer có điện chỉ đạt 80% (tại Trà Vinh) và 67,2% (tại Sóc Trăng). Do mức sống bình quân thực tế của bà con hiện rất thấp, nên điện năng tiêu thụ bình quân người Khmer chỉ đạt 65-75 kWh/người/năm (so với bình quân toàn quốc 637 kWh/người/năm)...

Ông Nguyễn Thanh Long - GĐ Điện lực Trà Vinh- cho biết: “Dự án cấp điện cho các hộ Khmer tại Trà Vinh sẽ được thực hiện tại 378 thôn ấp của 83 xã thuộc 7 huyện trong tỉnh, với tổng mức đầu tư khoảng 226,9 tỉ đồng. Tổng số hộ dân được cấp điện sinh hoạt từ dự án khoảng 19.923 hộ”.

Còn tại Sóc Trăng, ông Huỳnh Minh Hải - GĐ Điện lực - khẳng định: “Với tổng mức đầu tư là 305 tỉ đồng, sẽ có 20.388 hộ dân, chủ yếu là người Khmer được hưởng lợi từ dự án”. - Việc đầu tư sẽ bao gồm xây dựng mới và nâng cấp lưới điện. Riêng mạng điện trong nhà sẽ do các hộ tự bỏ kinh phí, song đối với các hộ nghèo đặc biệt khó khăn, hộ gia đình chính sách xã hội sẽ được UBND hai tỉnh hỗ trợ kinh phí, lấy từ nguồn vốn Chương trình 134, 135...

Để các dự án được triển khai đúng tiến độ, Cty Điện lực 2 cho biết: Dự án sử dụng nguồn vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á được ngân sách nhà nước cho vay lại nên cần có cơ chế và hướng dẫn cụ thể việc cấp vốn từ các bộ, ngành để quá trình thực hiện không bị chậm chễ.

Liên quan tới tiến độ đền bù, GPMB có khả năng cũng làm chậm tiến độ, Cty Điện lực 2 kiến nghị UBND hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh vận động các hộ dân trong vùng dự án hợp tác, nhằm hạn chế tối đa việc đền bù, xem đây là hình thức góp vốn của nhân dân cùng với Nhà nước đầu tư xây dựng lưới điện trên địa bàn.

Hồng Quân

Năm 2010: Nâng lễ hội đua ghe ngo lên Fesival Ooc-om-boc

"Sóc Trăng sẽ nâng lễ hội đua ghe ngo của tỉnh lên mức"Fesival Ooc-om-boc & đua ghe ngo Sóc Trăng"vào năm 2010, nhân dịp đại lễ kỷ niệm 1. 000 năm Thăng Long - Hà Nội và lâu dài sẽ được tỉnh tổ chức thường niên".

Đó là khẳng định của ông Lê Thanh Cần - Phó chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng - tại Hội thảo khoa học"Bảo tồn và phát huy Lễ hội Ooc-om-boc & đua ghe ngo Sóc Trăng"do tỉnh Sóc Trăng và Viện Văn hóa nghệ thuật VN Phân viện TPHCM vừa phối hợp tổ chức.

Lễ hội Ooc-om-boc của người Khmer Sóc Trăng (nói riêng) và Nam Bộ (nói chung) là tổng thể của một nét sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, tín ngưỡng và lễ hội của những cư dân nông nghiệp; trong đó chủ điểm là lễ hội Ooc-om-boc, là hội đua ghe ngo.

Lễ hội diễn ra trong 3 ngày với những hoạt động mang tính tính ngưỡng; đêm rằm là lễ cúng trăng để tạ ơn thần mặt trăng, dâng lên người những sản vật đầu tiên của một vụ mùa và thả đèn nước (Loy- pro- típ).

Hôm sau là hội đua ghe ngo với ý nghĩa đưa nước ra biển cả, trả nước về cho thần rắn Naya.

Dù nhìn ở góc độ nào, các nhà nghiên cứu đều có chung nhận xét: Lễ hội Ooc-om- boc - đua ghe ngo ở Sóc Trăng có những nét độc đáo riêng biệt.

TS Phú Văn Hẳn - Trung tâm Nghiên cứu dân tộc và tôn giáo, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ - nhận định:"Đây là một lễ hội độc đáo mang tính dân tộc và cộng đồng rất cao của người Khmer Sóc Trăng. Việc lễ hội này trở thành lễ hội chung của quốc gia là xứng đáng".

Còn riêng với mảng bảo tồn, ông đề nghị:"Trước hết cần phải giữ gìn được những bản sắc độc đáo đó thông qua các hoạt động phục dựng, biên soạn tài liệu và cần được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn".

Nhìn chung ý kiến của các nhà nghiên cứu tại hội thảo đều cho rằng ngoài việc bảo tồn, gìn giữ bản sắc thì cần phải nâng tầm và đưa lễ hội ngày càng vươn xa để xứng tầm với một hoạt động nằm trong hệ thống lễ hội thường niên của quốc gia.

Hiện nay, Sóc Trăng đã hoàn thành đường đua ghe ngo trên kênh Maspero dài 1.200 mét với hai dãy khán đài cùng bờ kè có phân cấp để phục vụ người đến xem. Những con đường vào khu vực đường đua, các công trình phụ trợ (bãi đỗ xe, nhà điều hành, nhà nghỉ cho VĐV) cũng đã được khởi công xây dựng... Nhưng quan trọng hơn cả là, đến thời điểm này, tất cả 84 điểm chùa Khmer trong tỉnh đều đã có ghe ngo hoặc được hỗ trợ đóng mới ghe là cơ sở vững chắc để Sóc Trăng tổ chức thành công Festival Ooc-om-boc vào năm 2010.

Còn lễ hội đua ghe ngo năm nay với số lượng trên 60 ghe tham gia (dự kiến) sẽ là bước"tổng dượt"cho Festival.


Nguồn: LĐ (vietravel-vn.com)

Sóc Trăng: Quan tâm dạy chữ cho học sinh người Khmer

Theo số liệu của Sở GD&ĐT Sóc Trăng, hiện nay toàn tỉnh có 1 trường THPT Dân tộc nội trú của tỉnh và 5 Trường THCS dân tộc nội trú ở các huyện Vĩnh Châu, Thạnh Trị, Kế Sách, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên với gần 1.500 học sinh.

Trong hệ thống giáo dục chung, năm học 2009-2010 này, toàn tỉnh có trên 68.000 học sinh là con em đồng bào Khmer học 2 thứ chữ, Việt và Khmer. Ngoài dạy chữ Khmer trong hệ thống trường phổ thông và trường dân tộc nội trú, tại 92 chùa Khmer trong tỉnh và các phum, sóc cũng thường xuyên tổ chức các lớp dạy chữ Khmer miễn phí cho con em và người dân tộc Khmer.

Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết Khmer được các cấp uỷ, chính quyền địa phương, phụ huynh và học sinh ủng hộ quan tâm nên số lượng người học, biết chữ Khmer ngày càng tăng.

Bên cạnh đó, giáo viên dạy chữ Khmer cũng được hưởng chính sách ưu đãi đặc biệt, được hưởng phụ cấp thêm 50% lương, với học sinh là con em đồng bào dân tộc Khmer còn được miễn học phí, hưởng chế độ chính sách ưu đãi, được cấp dụng cụ học tập và mượn sách giáo khoa để học tập, riêng học sinh học trong hệ thống trường dân tộc nội trú được nhà nước chăm lo toàn bộ từ học hành, ăn, ở và các chế độ khác…

Ông Trần Việt Hùng, Giám đốc Sở GD&ĐT Sóc Trăng, cho biết: Để nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Khmer, hàng năm ngành Giáo dục tỉnh có tổ chức kiểm tra nhiệm ý môn tiếng Khmer, riêng năm học 2008-2009 vừa qua, Sở đã tổ chức kiểm tra đối với trên 6.600 học sinh, kết quả có khoảng 98% học sinh được công nhận đạt trình độ tiếng Khmer, ngoài ra tỉnh còn tổ chức các cuộc thi học sinh giỏi tiếng Khmer cấp trường, cấp huyện và cấp tỉnh, tạo không khí học tập và phấn đấu của học sinh.
(Theo CAND )

Năm 2010: Sóc Trăng đầu tư trên 60 tỷ đồng giải quyết nước sinh hoạt cho hộ Khmer nghèo (06/01/2010)

Thực hiện một số chính sách hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng. Năm 2010 Sóc Trăng sẽ tập trung chỉ đạo giải quyết căn cơ vấn đề nước sạch sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc Khmer nghèo trong tỉnh. Qua đó, tập trung giải quyết hỗ trợ nước sinh hoạt cho 20.000 hộ đồng bào Khmer nghèo với tổng mức đầu tư 60 tỷ 282 triệu đồng.

Các hạng mục sẽ được tập trung xây dựng như: Công trình nước tập trung và kết nối đồng hồ nước trị giá 47 tỷ đồng; giếng khoan kiểu UNICEF là 3 tỷ 759 triệu đồng; trang bị lu hoặc bể chứa nước sinh hoạt là 9 tỷ 523 triệu đồng. Nguồn vốn đầu tư của dự án này do ngân sách Trung ương cấp 54 tỷ 254 triệu đồng, vốn ngân sách địa phương là 6 tỷ 028 triệu đồng. Đây là một trong những chương trình an sinh xã hội lớn của Sóc Trăng nhằm tạo điều kiện cho hộ đồng bào Khmer nghèo trong tỉnh được hưởng lợi ích từ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, góp phần nâng cao từng bước đời sống của hộ nghèo và đảm bảo có nguồn nước sạch được phục vụ cho các đối tượng nghèo để giữ gìn sức khỏe vệ sinh môi trường./.
Văn Trinh