Thứ Ba, 9 tháng 6, 2009

Rô băm – Loại hình nghệ thuật độc đáo của người Khmer ở Kiên Giang


Hoạt cảnh mừng Tết CholChnamThmây của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Kiên Giang - Ảnh: BCB
“Là loại kịch múa cổ điển sân khấu cung đình của người Khmer xưa đã đạt đến một trình độ nghệ thuật rực rỡ. Có thể liên tưởng Rô băm của người Khmer với nghệ thuật hát Tuồng của người Kinh: tinh tuý đấy nhưng số công chúng có mỹ cảm và trình độ thưởng thức không nhiều…”

Rô băm là gì?

Theo ông Đào Chuông –Trưởng đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Kiên Giang thì: “Rô băm còn gọi “Rom Rô băm” là loại kịch múa cổ điển sân khấu cung đình của người Khmer xưa đã đạt đến một trình độ nghệ thuật rực rỡ. Có thể liên tưởng Rôbăm của người Khmer với nghệ thuật hát Tuồng của người Kinh: tinh tuý đấy nhưng số công chúng có mỹ cảm và trình độ thưởng thức không nhiều. Nếu Dù-kê có thể truyền tải những vấn đề của cuộc sống đương đại thì Rô băm chuyên về diễn tả những “chuyện xưa tích cũ”.

Các diễn viên Đoàn Nghệ thuật Rô băm tỉnh Trà Vinh - Ảnh: BCB

Các nghệ sĩ múa chuyên nghiệp biểu diễn những động tác và tư thế của đôi bàn tay, trong tư thế phối hợp nhịp nhàng, uyển chuyển, uốn cong của toàn thân. Người xem cảm thấy bâng khuâng, thương nhớ các nàng Apsara (vũ nữ thiên đình) mà hình ảnh tuyệt vời còn lung linh trên mặt đá; với sức mạnh khái quát thể hiện tính chất trang nghiêm sùng kính của truyền thống tôn giáo và cung đình từ thời xa xưa… thể hiện ý tình sâu kín nhất của các nhân vật. Muốn đạt được trình độ đó, nhiều nghệ sỹ phải trải qua nhiều năm rèn luyện.

Sân khấu Rô băm ngoài động tác múa, còn dùng lời nói, lời hát để giải thích các tình tiết, sự kiện, hành động của diễn viên. Nội dung thường là tích cổ như vở Riêm kê trích từ anh hùng ca Ấn độ Ramayana… Nhân vật trở thành mẫu người lý tưởng của người Khmer như nàng Sêđa xinh đẹp thuỷ chung, hoàng tử Rama tài giỏi nhưng gặp nhiều chuyện gian truân, khổ ải. Khỉ thần Hanuman có nhiều pháp thuật cao cường… Các vở khác như Ra Ta Na Vông, Linh Thôn… cũng đều đượm tinh thần Phật giáo “Ở hiền gặp lành”, làm việc ác ắt phải đền tội.

Anh Thạch Nô diễn viên Đoàn nghệ Nhuật Khmer Kiên Giang kể lại: “Trước đây khi Đoàn còn dựng vở tôi chuyên đóng vai Chằn. Trong vở diễn Rô băm thường có hai tuyến nhân vật vua, hoàng tử, công chúa… không mang mặt nạ. Và ngược lại những nhân vật mang mặt nạ gồm nhiều loại, nhưng nổi bật nhất là vai chằn – Yeak- đại diện cho phái ác. Ngoài ra, trong vở diễn Rô băm cũng thường có vai hề xuất hiện để gây cười làm vui nhộn sân khấu”.

Âm nhạc Rô băm ngoài phần hát còn có nhạc đệm gồm trống “Cồn” và kèn Slayrom. Đây là dàn nhạc chủ yếu gây không khí cổ động cho đêm diễn và đệm múa, có âm lượng lớn, diễn tấu như: trống thúc mạnh mẽ trong những màn chiến đấu, khi khóc than thì cất lên tiếng kèn nghe thật ai oán….

Theo các nghệ nhân thì Rô băm xưa kia thường biểu diễn ngay dưới đất, có rải rơm lên trên, ánh sáng đốt bằng dầu mù u. Ngày nay sân khấu được dựng trên bục cao cho khán giả dễ coi, ánh sáng được thay bằng điện. Đạo cụ cho diễn viên được trang bị khá hơn. Phông màn thường vẽ cung vua hay cảnh rừng già. Phía trước có kê một cái bàn con với ít ghế nhỏ. Màn chỉ được kéo lên một lần trong suốt vở diễn. Mỗi khi chuyển cảnh “ông Bầu” giới thiệu qua cảnh tiếp để người xem dễ theo dõi.

Một thời vàng son

Thời hoàng kim của đoàn Rô băm vào những năm thập niên 60 của thế kỷ XX. Hàng năm các đoàn nghệ thuật Rô băm thường đi lưu diễn ở đám làm phước, các chùa. Đoàn đi diễn đến đâu đều được bà con Khmer địa phương “hậu đãi” lo nơi ăn chốn ở đàng hoàng. Các diễn viên hết lòng đem tài năng nghệ thuật ra phục vụ công chúng. Nhiều đêm diễn trăng sáng, mưa trái mùa lâm râm, tiếng ếch nhái oang oang khắp đồng và nhảy loạn xạ trên sân cỏ nhưng bà con vẫn nhiệt tình, chăm chú, say mê xem đoàn diễn hết đêm này đến đêm khác. Được biết, trong quá trình phát triển, nghệ thuật Rô băm hình thành nhiều lớp nghệ sỹ, nhiều người đã qua đời nhưng họ vẫn còn được người đương thời nhắc tới và ngưỡng mộ tài năng.

Nỗi lo thất truyền

Chúng tôi trở lại thăm gia đình ông Đào Chuông - Trưởng đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Kiên Giang. Trong căn hộ tập thể cấp bốn đơn sơ, song ấm cúng và rất giàu truyền thống văn hoá này, chúng tôi bắt gặp nhiều loại mặt nạ: chằn, khỉ, nai, ngựa, mão vua… do ông sáng tạo nên. Nhưng đã từ lâu nó trở thành vật lưu niệm chứ không còn được sử dụng nữa.

Mặc dù rất tâm huyết với nghệ thuật Rô băm nhưng ông rất buồn thừa nhận: Đã mấy năm nay Đoàn Nghệ thuật Khmer Kiên Giang không còn dàn dựng và công diễn được một trích đoạn Rô băm nào. Lý do không phải chỉ là vấn đề kinh phí khó khăn. Hiện Đoàn tập trung vào hai loại hình nghệ thuật là Ca- múa-nhạc và Dù –kê. Hơn nữa đầu tư dàn dựng vô cùng công phu. Lớp nghệ nhân điêu luyện ngày càng hiếm vắng. Còn lớp trẻ ngày nay lại ít mặn mà với Rô băm bởi việc truyền dạy và ý thức kế thừa thứ nghệ thuật cổ truyền này đã không được chú ý đúng mức trong nhiều năm qua. Mà trong việc tuyển chọn diễn viên Rô băm tiêu chuẩn đầu tiên lựa chọn là dựa vào sự ham thích và năng khiếu, rồi mới qua thực tế với sự hướng dẫn của lớp nghệ nhân già. Những nghệ sỹ này cũng chỉ là những nông dân. Sau những đêm biểu diễn, họ lại về làm ruộng rẫy… Ở một đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp hay nói rộng ra là lĩnh vực quản lý Nhà nước, Rô băm bị “đối xử” như vậy còn trong dân gian thì sao? Liệu Rô băm có bị thất truyền?

Đem nỗi trăn trở này, chúng tôi tìm về Chùa Rạch Tìa xã Định An - huyện Gò Quao nơi được coi là chiếc nôi nuôi dưỡng nghệ thuật Rô băm của đồng bào Khmer ở tỉnh Kiên Giang. Vị đại đức trụ trì chùa cho biết: “Đã nhiều năm nay chùa không còn tổ chức diễn Rô băm vào những dịp tết lễ như trước. Lý do là những nghệ nhân già thì thưa thớt dần còn lớp trẻ biết Rô băm thì không có”.

Thay cho lời kết

Rô băm là một bộ môn nghệ thuật thuộc di sản văn hóa của đồng bào Khmer. Mặc dù Rô băm hiện nay chỉ còn được người lớn ưa thích, vì lớp trẻ chỉ thích Dù kê bởi hình thức này linh hoạt, gần gũi, gây xúc động cho khán giả hơn, nhưng người Khmer vẫn nuôi dưỡng, bảo tồn Rô băm là môn nghệ thuật truyền thống quý giá của dân tộc. Thiết nghĩ Nhà nước cần quan tâm hỗ trợ nhiều hơn nữa cho loại hình nghệ thuật này. Cụ thể là Sở Văn hoá –Thông tin, Ban dân tộc, Hội Văn học Nghệ thuật, Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh Kiên Giang là những đơn vị có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo và thực hiện việc sưu tầm, đào tạo một lớp diễn viên trẻ hát hay, múa dẻo làm sao bảo tồn và phổ biến cho bằng được môn nghệ thuật quí giá này.

Ở cấp huyện, xã, phum sóc…. nếu có điều kiện chính quyền nên khuyến khích thành lập các đoàn Rô băm quần chúng giao lưu rộng rãi. Trong xu thế đời sống văn nghệ hiện nay, một khi công chúng trong nước vượt qua những làn sóng thời thượng nhất thời, Rô băm rồi sẽ tìm lại được khán giả của nó. Rô băm không “chết” và có lẽ cũng chẳng cần hoá thân vào các loại hình sân khấu khác bởi tự thân nó vốn có đầy đủ giá trị nghệ thuật mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc truyền thống của người Khmer Nam bộ.

Bùi Công Ba

Lễ Đôl Ta – Nét đẹp của lòng hiếu thảo, tri ân


Múa truyền thống của người Khmer Nam bộ - Ảnh: Công Ba
Trong đời sống tâm linh của người Kinh theo đạo Phật có lễ Vu Lan diễn ra vào rằm tháng 7 âl hàng năm, được xem là “mùa báo hiếu”- nét đẹp về lòng, tri ân, hiếu thảo của con cái với đấng sinh thành. Cũng mang nét đẹp đậm đà bản sắc văn hóa truyền thống, đồng bào dân tộc Khmer có lễ Đôl ta - lễ cúng ông bà tổ tiên, là một trong những lễ lớn trong năm - diễn ra trong 3 ngày, từ 29-8 đến 1-9 âl.

Theo truyền tích xưa, người Khmer chọn thời điểm này để tổ chức lễ Đôl ta, vì đây là lúc vụ mùa cày cấy vừa xong, tiết thu mát mẻ, trời đẹp. Mọi người nghỉ ngơi lấy lại sức sau những tháng ngày làm lụng cực nhọc. Lúc ấy, ngoài đồng văng vẳng tiếng chim kêu. Người Khmer gọi đó là “Satt đôn ta” (chim tổ tiên) báo hiệu cho mọi nhà chuẩn bị cho lễ Đôl ta. Vừa xong mùa vụ, khí hậu mát mẻ, nhìn đồng ruộng xanh tốt, lòng người phơi phới, dặn nhau: phải chuẩn bị tốt cho ngày lễ Đôl ta - cúng ông bà tổ tiên thật chu đáo, vui vẻ và ý nghĩa. Lễ Đôl ta nhằm 4 mục đích: nhớ đến ông bà, cha mẹ, họ hàng; tập trung anh em, con cháu trong gia đình lại để biếu quần áo, bánh trái cho những người có công ơn còn đang sống và làm lễ cầu phước cho người quá cố; đoàn kết giữa những người trong phum sóc với nhau; tổ chức liên hoan vui chơi, gắn bó họ hàng, bè bạn thân thích, tình làng xóm để giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống.

Trong 3 ngày diễn ra lễ Đôl ta được tổ chức cụ thể: ngày thứ nhất, mỗi gia đình dọn dẹp bàn thờ tổ tiên, trải chiếu, để mùng mền, gối mới lên giường rồi để sẵn một bộ áo quần mới, chư chuẩn bị cho ông bà đi xa mới về nhà. Chuẩn bị các thứ này xong, họ bày bánh, trà và dọn một mâm cơm để 4 cái chén, đốt nhang, đèn rồi mời họ hàng, bà con lối xóm lân cận đến cùng cúng. Sau khi rót 3 lần rượu, trà cúng, những người đứng cúng gắp thức ăn để vào chén, đổ trà rượu vào rồi đem ra sân đổ cạnh hàng rào, mời “ma quỷ” đưa ông bà họ về nhà ăn và ở lại suốt 3 ngày cúng, để đưa giúp ông bà tổ tiên họ trở lại nơi cũ. Buổi sáng gọi là “cúng tiếp đón”. Buổi chiều, họ lại cúng linh hồn ông bà, tắm rửa, thay quần áo mới rồi mời linh hồn ông bà cùng đi vào chùa nghe sư sãi tụng kinh lấy phước, và đi xem hát múa vui chơi cho thoả thích. Những ngày này, trong tình cảm của con cháu, ông bà, tổ tiên họ như hiện diện bên con cháu, nên ai cũng phấn chấn.

Ngày cúng thứ 2, sau một ngày đêm và 1 ngày ở chùa, đến chiều họ lại đưa linh hồn người quá cố về nhà. Họ cũng làm cơm cúng và mời ông bà ở lại chơi với con cháu thêm 1 đêm nữa. Ngày thứ 3 là ngày cúng cuối cùng, mỗi gia đình lại dọn lễ vật như ngày đầu tiên và cũng mời họ hàng, lối xóm đến dự, gọi là “cúng đưa”. Khi làm các thủ tục cúng như ngày đầu, họ bới cơm, gắp thức ăn vào chén, rồi đổ vào thuyền, tàu buồm họ làm bằng bẹ chuối, mo cau để tiễn ông bà về nơi cũ. Thức ăn này họ chuẩn bị cho ông bà đi đường. Trên tàu họ treo cờ phướn hình tam giác, khắc hình cá sấu, tắc kè ở đầu và đuôi tàu để tránh tai nạn dọc đường. Họ còn để thêm bánh trái, lúa, muối, đậu, mè để ông bà và “người” đưa đường ăn được lâu.

Xong xuôi, họ đem chiếc thuyền này thả trên sông, hoặc rạch gần nhà. Sau khi đưa tàu đi, họ tiếp tục mời anh em trong gia đình, bà con lối xóm dùng cơm. Bữa cơm thân mật có xen ca hát, tạo không khí vui vẻ, có nhà mời ông lục đến tụng kinh tạo phần long trọng, kéo dài đến chiều hoặc tối kết thúc 3 ngày lễ Đôl ta. Ngày nay, trong mối quan hệ xã hội rộng rãi, đoàn kết lâu bền giữa 3 dân tộc Kinh- Khmer- Hoa, lễ Đôn ta của đồng bào dân tộc Khmer anh em, đồng bào Kinh, Hoa trong các xóm, ấp, phum, sóc lân cận cũng được mời đến chung vui, càng thắt chặt thêm tình làng, nghĩa xóm trong tinh thần toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Lễ Đôl ta như lễ Vu lan đều được xem là nét đẹp về lòng hiếu thảo, tri ân của con cháu với ông bà, cha mẹ đang sống và đã mất.

Thanh Xuân

Âm nhạc truyền thống trong đồng bào dân tộc Khmer U Minh Thượng


Sinh hoạt văn hóa, lễ hội người Khmer Nam bộ - Ảnh: BCB
Như khúc tình ca về mùa xuân ấm áp tình người, tết Chôl Chnăm Thmây mang ý nghĩa “vào năm mới” hay còn gọi là lễ chịu tuổi, là lễ lớn nhất trong năm của người Khmer. Vào dịp này, mọi người lên chùa lễ phật, trang phục và đồ trang sức rực rỡ hơn thường ngày. Nét đặc sắc trong văn hóa dân tộc Khmer thể hiện qua phong tục, tập quán, nghi lễ, ngôn ngữ… mà âm nhạc chính là món ăn tinh thần không thể thiếu, góp phần tạo nên vẻ đẹp độc đáo trong văn hóa truyền thống của người Khmer Nam bộ.

Tết Chôl Chnăm Thmây năm 2009 của đồng bào dân tộc Khmer ở U Minh Thượng khác hơn mọi năm. Lúa trúng mùa, nông dân làm ra sản phẩm bán được giá nên ăn tết có phần sung túc hơn. Bên cạnh đó, được sự quan tâm của Đảng bộ huyện, Phòng Văn hóa và Thông tin kết hợp cùng Ban quản trị Chùa Xẻo Cạn và UBND xã Thạnh Yên tổ chức chương trình giao lưu văn nghệ, tạo nên làn sóng âm nhạc với những loại hình phong phú của dân ca trữ tình sâu lắng, thể hiện tình yêu thiên nhiên, tình yêu đôi lứa, tình yêu lao động, tình yêu phum sóc, tình yêu quê hương, tình yêu đất nước và những bài hát về mùa xuân...

Tưng bừng trong điệu múa lâm thôn - Ảnh: Hồng Diễm
Trong làn gió mơn man của mùa xuân, lòng người dường như được sưởi ấm và bừng lên niềm vui. Các thế hệ, từ già đến trẻ cùng hòa chung điệu nhạc, hát những bài hát yêu thích như: Ol ơi ôl srây, ô ca la hong, com nức kê ây, ka keo, khechec Chôl Chnăm Thmây, Oi Squai Chanh ty… và tươi cười trong điệu múa lâm liêu, saraval. Các cô gái Khmer ở U Minh hồng hào nét mặt, xúng xính trong trang phục xà rông có đính chuỗi hạt cườm ở cạp, áo tầ vông dệt bằng tơ tằm, sợi bông hay chỉ kim tuyến với các loại hoa văn khác nhau mà màu trắng hoặc màu vàng là chủ đạo. Màu vàng được ưa dùng vì nó gợi không khí hội hè, chiếc khăn “sbay”, một loại khăn lụa xanh mềm mại cuốn chéo từ vai trái xuống sườn phải góp phần tạo nên tính nhạc thật uyển chuyển trong điệu rom-vong tình tứ, hay còn gọi chung là múa lâm thôn.

Khi tiếng trống, nhạc vang lên, từng đôi nam – nữ, già trẻ cùng uyển chuyển bước ra sân, hòa mình vào điệu múa tập thể. Nữ lượn 2 cánh tay ra trước ngực, nam dang rộng cánh tay như để che chở cho người bạn múa. Múa lâm thôn, động tác khá đơn giản chỉ cần nhìn một chút là có thể múa theo được. Tuy vậy, phải tuân theo một số qui tắc nhất định như: người ít tuổi, địa vị thấp hơn sẽ ra múa trước, sau đó mới tiến đến mời các vị quan khách, người cao tuổi ra múa giao lưu. Đội hình múa di chuyển càng nhiều vòng, thế là cả người Khmer và các vị khách mời người Kinh, người Hoa cùng nhau vui vẻ, động tác múa càng nhanh hơn theo nhịp trống. Khi trống ngừng, mọi người cùng dừng lại chấp tay chào nhau rồi trở về vị trí cũ. Dịp này, những chàng trai, cô gái cũng tập trung tại sân bãi nào đó trong phum, sóc hẹn hò, tìm hiểu:

“Anh quăng chlung tới

Chlung tung lên trời

Duyên em sáng ngời

Đón lấy chlung anh…”

“… vì con bướm rừng sẽ đến với em

Vì có chàng trai tốt sẽ tới với em

Như nước về với giếng…”

Văn hóa âm nhạc của người Khmer hiện diện ở mọi nơi, trong tất cả ngày thường. Khi có điều kiện, những giai điệu nhạc vui tươi lại vang lên một cách mạnh mẽ trong mỗi con người Khmer. Anh Danh Bảy, ấp Xẻo Lùn A, xã Thạnh Yên (U Minh Thượng) bộc bạch: “Từ trước đến giờ chưa năm nào tui được ăn tết vui như vầy. Nhờ có chương trình giao lưu văn nghệ mà tui được múa, được hát một cách thỏa thích trước đám đông, thật tình vui quá là vui”. Còn bà Danh Ên ở huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang xuống ăn tết tại Chùa Xẻo Cạn, Thạnh Yên A (U Minh Thượng), miệng vừa nhai trầu vừa phấn khởi tâm sự: “Năm nay, tui xuống đây ăn tết, thấy vui quá trời luôn. Tết Chôl Chnăm Thmây mà người Việt nhiệt tình lắm. Họ giúp làm đủ thứ, họ nói chuyện cũng vui lắm”. Đáp lại sự quan tâm, của người Việt, nhất là sự quan tâm của Đảng bộ huyện U Minh Thượng, Sư Khỏe- chủ trì Chùa Xẻo Cạn (U Minh Thượng) nói: “Thay mặt đồng bào phật tử Khmer ở U Minh Thượng, tui xin cảm ơn những tình cảm chân thành của đông bào Việt, xin chân thành cảm ơn Đảng bộ huyện đã tạo mọi điều kiện cho đồng bào dân tộc Khmer chúng tôi có được cái tết vui vẻ và ấm áp nghĩa tình”.

Chính tiếng nhạc và lời ca trong đêm giao lưu văn nghệ đã thể hiện và kế thừa một cách sâu sắc tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của các dân tộc anh em trên địa bàn huyện. Nó vừa mang cái chung của cộng đồng các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer vừa mang nét riêng của đồng bào dân tộc Khmer ở U Minh Thượng. Tin rằng, với những giá trị truyền thống quý báu đó, U Minh Thượng sẽ ngày càng phát triển và phồn vinh hơn nữa.

Hồng Diễm


Thứ Tư, 27 tháng 5, 2009

Độc đáo chùa Khmer Nam Bộ


Người Khmer sinh tụ ở Nam Bộ rất lâu đời và họ đã kiến tạo nên một nền văn hóa rực rỡ. Với người Khmer, ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt tôn giáo, văn hóa, tinh thần của cộng đồng được xây dựng bề thế trang nghiêm, chạm khắc rất tinh tế, công phu với mái cong, nóc nhọn, tháp cao vút nằm giữa khuôn viên rộng để bà con đến làm lễ, vui chơi.

Chùa Khmer Nam Bộ nói chung đều mang kiến trúc Angkor của người Campuchia. Từ cổng nhìn vào chùa Khmer Nam Bộ qua cầu thang, có hai cấp sân rộng bao quanh ngôi chánh điện được tráng xi măng, mái chùa có ba cấp, mỗi cấp được chia thành ba nếp, nếp giữa lớn hơn, hai nếp phụ hai bên bằng nhau, không có tháp nóc. Những hàng cột phía ngoài chánh điện được xây dựng theo lối kiến trúc cổ Cô-ranh, phía trên nối tiếp giáp giữa đầu cột với mái chùa có tượng thần Krud mình người đầu chim, mỏ ngậm viên ngọc với 2 tay đỡ mái chùa. Trước bậc thềm vào chánh điện có hai pho tượng chằn Year hung dữ, mặc áo giáp, đứng bảo vệ ngôi chùa, tượng chằn hình dáng to lớn, mặt dữ tợn, miệng há rộng răng nanh to nhọn, tay cầm chày là biểu tượng cái ác, cái xấu, gây thương đau cho mọi người, khi tượng chằn được đặt trong chùa là biểu tượng cái thiện. Vì người Khmer tin rằng chằn bị thu phục bởi Đức Phật để phục vụ cho chánh điện, bảo vệ sự bình yên cho dân lành. Cửa vào chánh điện được chạm trổ rất công phu, tinh xảo kết hợp giữa phong cách nghệ thuật chùa và nghệ thuật chạm khắc dân gian đã tạo nên nét độc đáo cổ kính, đỉnh cao nghệ thuật thể hiện ở những họa tiết độc đáo nơi mái vòm, tường, các hàng cột và cầu thang như: Tượng đầu vị thánh bốn mặt "Maraprum" là tiền thân của "Brama" - vị thần sáng tạo ra thế giới; nữ thần "Kayno" nửa người, nửa chim; chim thần "Marakrit". Trên những hàng cột là phù điêu các tiên nữ và những quái vật. Theo triết lý của người Khmer đó là những thử thách đối với phật tử trên bước đường tu thành chánh quả. Trên mái vòm và cầu thang đều chạm trổ họa tiết có thần rắn Naga; vì họ quan niệm rằng tấm lòng từ bi hỷ xả của Đức Phật đã thuần hóa được loài vật nguy hiểm này.

Điểm chung của chùa Khmer Nam Bộ là chánh điện thường quay về hướng Đông; vì họ cho rằng con đường tu hành của Phật đi từ Tây sang Đông. Bên trong chánh điện du khách có thể choáng ngợp bởi vẻ bề thế và lộng lẫy với nhiều màu sắc, mang nét văn hoá Khmer, mang nét đặc thù nền tảng của Bà Lamôn giáo, ảnh hưởng sâu đậm văn hoá Ấn Độ, nhiều nhất là trên nóc được trang trí hình ảnh đền Angkor Wat - nơi khởi nguồn của phong cách kiến trúc Khmer. Xung quanh trong chánh điện bày trí rất nhiều hình ảnh giải thích quá trình tu hành khổ luyện của Đức Phật từ lúc sinh ra đến lúc làm Thái tử, cho đến khi vào cõi Niết Bàn. Đối diện chánh điện là các cột trụ biểu là hình tượng thần rắn Naga 5 đầu, dùng để thắp nến vào những ngày lễ hội; theo giáo lý Phật pháp sẽ soi sáng cho nhân loại, giúp mọi người sống hướng thiện như chính loài rắn. Trải qua tiến trình lịch sử, ngôi chùa có một vị thế rất vững chắc trong đời sống xã hội và tâm thức của người Khmer Nam Bộ. Chùa chính là nơi diễn ra các lễ hội lớn trong năm như: Tết cổ truyền Chôl-chnăm-thmây, lễ Đôn ta, lễ hội Ook-Oom-Bok, nơi tập trung bà con Khmer đến học chữ Paly, học giáo lý, học nghề...

Chùa Dơi trong giai đoạn trùng tu.

Hiện tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long có rất nhiều ngôi Chùa Khmer cổ vài trăm tuổi được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, là điểm thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. Chùa Dơi được xây dựng năm 1569 với tên khai sinh theo ngôn ngữ Khmer là Sêrây Têchô Mahatúp, còn được gọi theo tiếng Việt là chùa Mã Tộc, ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer đã được trùng tu nhiều lần và bị hoả hoạn ngày 16/8/2007, hiện đang khôi phục trùng tu trên nền cũ. Ngôi chùa nằm trong một khu vườn rộng khoảng 3 ha, um tùm các loại cây ăn quả như xoài, vú sữa, sầu riêng, măng cụt... Gọi là chùa Dơi vì ngôi chùa nổi tiếng với một đàn dơi hàng vạn con dơi quạ. Đã từ hàng trăm năm nay, đàn dơi chọn vườn chùa làm nơi cư trú và nghỉ ngơi, ban ngày treo mình trên các cành cây ngủ yên lành. Có nhiều cây dơi treo dốc đầu ngủ, chi chít như lá. Khoảng thời gian từ tháng 5-8 là mùa sinh sản, mỗi dơi mẹ ôm một dơi con mà ngủ. Đi lại trong chùa phải thật yên tĩnh, một tiếng động mạnh bất thường cũng có thể làm dơi mẹ giật mình, đánh rơi con. Con dơi mới đẻ sải cánh đã dài tới 50cm, dơi trưởng thành sải cánh khoảng 1m và nặng xấp xỉ 1,5kg. Hoàng hôn xuống, chúng thức giấc bay lên, ríu rít gọi nhau, lượn qua lượn lại mấy vòng, rồi mới từ giã ngôi chùa đi kiếm ăn. Có một điều rất lạ là dơi không hề ăn một trái chín nào ở vườn chùa. Chúng tung cánh bay đi xa, kiếm ăn trên những miệt vườn khắp vùng sông Tiền, sông Hậu, để rồi sáng sớm lại trở về ngủ trong vườn chùa. Có những cành cây ăn trái của nhà dân ngả sang vườn chùa thì đàn dơi cũng tránh, không con nào chịu ngủ trên những cành cây đó. Đây là một điều thực tế, không phải là huyền thoại. Trong tình hình môi trường đang bị hủy hoại, chim thú đang bị săn bắt tàn bạo như hiện nay, thì chùa Dơi vẫn còn là một môi trường tốt và thanh bình cho hàng vạn con dơi. Đất lành chim đậu, có thể nói các nhà sư ngày trước đã tìm được một nơi đất lành để dựng chùa, mời gọi được đàn dơi về đây. Trong khuôn viên chùa có hàng triệu con dơi. Theo gia phả để lại, họ hàng dơi xuất hiện ở đây từ 200 năm về trước, dường như chúng đã chọn nơi này làm cửa sinh theo triết lý nhà Phật, là cửa sinh vì không hề bao giờ nhìn thấy một xác dơi chết (không có cửa tử). Nếp sinh hoạt cộng đồng động vật này là chúng treo mình trên những cành cây trong khuôn viên chùa suốt từ 6 giờ sáng đến 18giờ 30 chiều dơi bay đi kiếm ăn cách chùa khoảng 50-60km sau đó trở về chùa đúng 4 giờ sáng. Thông thường dơi ở đây sinh sản vào khoảng tháng 5-9 và dơi nhỏ bao giờ cũng ôm mẹ ngay cả khi vận động kiếm ăn. Nhưng chùa Dơi không chỉ nổi tiếng bởi những thứ đó, ở đồng bằng sông Cửu Long có chừng 600 ngôi chùa của đồng bào dân tộc Khmer, thì chùa Dơi nổi lên như một quần thể kiến trúc đẹp vào bậc nhất. Mái chùa gồm hai tầng lớp ngói màu. Phía đầu hồi, bốn đầu mái được chạm trổ tinh xảo hình rắn Naga cong vút. Trên đỉnh chùa có một ngọn tháp nhọn. Hàng cột đỡ bao quanh chùa, mỗi cột có một tượng tiên nữ Kemnar đôi tay chắp trước ngực như đang cất lời đón chào khách thăm viếng. Trong chính điện (sanctury) có một pho tượng Phật Thích Ca bằng đá nguyên khối trên một tòa sen cao khoảng hai mét. Khắp trên tường chùa là những bức tranh miêu tả cuộc đời Đức Phật, từ lúc ra đời tới khi được khai minh rồi nhập Niết Bàn. Bên cạnh đó còn có một pho tượng sinh động miêu tả Đức Phật cưỡi trên rắn thần Muchalinda. Ngay từ cổng vào cho đến kiến trúc mái chùa đã cho thấy nét tinh xảo đặc trưng. Những họa tiết vẽ trên cột, trần khu nhà có tượng Phật nằm tuy không có nhiều tiểu tiết, nhưng cũng đủ mô phỏng tín ngưỡng của người Khmer. Những bức họa lớn do các Phật tử từ nhiều nơi thực hiện gắn kín hết các bức tường phía ngoài.

Đàn dơi quạ bay về chùa.
Về với đồng bào Khmer Nam Bộ trong dịp tết cổ truyền Chôl-Chnăm-Thmây hay trong các lễ hội là đi trong hương hoa, nghe lời cầu kinh, niệm Phật râm ran và được xem các lễ hội dân gian linh đình. Tiếng trống sa-dăm hòa tiếng hát lâm thôn bay xa. Từ người già đến trẻ đều xênh xang áo mới. Các cô gái mặc xà rông sặc sỡ, tay bưng mâm có tấm lụa vàng phủ các lễ vật cúng phật. Các chàng trai mang các đạo cụ phục vụ lễ hội vừa đi vừa múa trống sa dăm rộn rã cả vùng quê. Đến với cộng đồng Khmer Nam Bộ, quý khách không chỉ được tham quan các chùa là di tích lịch sử văn hóa, danh thắng đẹp nổi tiếng mà còn có dịp tìm hiểu sâu hơn các lễ hội dân tộc, về đời sống văn hóa tinh thần của bà con Khmer Nam Bộ hiền hòa và mến khách.

Người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, ở Nam Bộ nói chung chiếm gần 6,7% dân số toàn vùng. Ngoài ra người Khmer còn cư trú ở miền Đông Nam Bộ, TP. Hồ Chí Minh, An Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Phước. Đời sống tôn giáo tín ngưỡng là sự tồn tại theo đạo Phật (phái tiểu thừa) nên mọi nghi thức lễ hội, đón mừng năm mới diễn ra ở chùa cổ kính và mang đậm màu sắc lễ hội Phật giáo.

Phương Nghi

Họp mặt kiều bào Khmer nam bộ mừng Chol Chnam Thmay


C

Đồng chí Sơn Song Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ (đứng thứ tư từ phải sang), chúc mừng Tết Chol Chnam Thmay đồng bào dân tộc Khmer.

(CT)- Ngày 18-4-2009, tại TP Cần Thơ, Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ phối hợp với các tỉnh, thành phố vùng Tây Nam bộ tổ chức họp mặt kiều bào là người dân tộc Khmer đang sinh sống ở nước ngoài về quê đón Tết Chol Chnam Thmay.

Tại buổi họp mặt, đại diện lãnh đạo Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ thông tin về tình hình KT-XH của đất nước nói chung, vùng Tây Nam bộ nói riêng. Trong những năm qua, những nơi có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống, các Bộ, ngành Trung ương và các địa phương tích cực triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc thông qua các chương trình, dự án phát triển KT-XH, xóa đói giảm nghèo… Đặc biệt là đồng bào sư sãi đã phát huy truyền thống đoàn kết, thi đua lao động sản xuất, học tập, đã tạo sự chuyển biến khá toàn diện. Tình đoàn kết giữa các tôn giáo, dân tộc được phát huy, bộ mặt nông thôn vùng có đông đồng bào Khmer sinh sống không ngừng đổi mới, an ninh quốc phòng ổn định. Riêng năm 2008, các tỉnh, thành phố có đông đồng bào Khmer trong vùng, được đầu tư gần 500 tỉ đồng để triển khai thực hiện các dự án phục vụ nhu cầu an sinh xã hội. Bà con được hỗ trợ nhà ở, trợ giá – trợ cước, vay vốn ưu đãi, giải quyết việc làm, chính sách cử tuyển, hộ nghèo được các địa phương thực hiện chính sách miễn giảm viện phí, cấp thẻ bảo hiểm y tế, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc… Từ đó, đời sống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc Khmer không ngừng được cải thiện.

Các đồng chí lãnh đạo mong đồng bào các dân tộc, đặc biệt là đồng bào dân tộc Khmer đang ở trong nước hay đang sinh sống ở nước ngoài hãy phát huy truyền thống đoàn kết, ra sức học tập, lao động, sản xuất kinh doanh, để làm giàu cho gia đình, giúp đỡ cho thân nhân và góp phần làm giàu quê hương đất nước. Chúc đồng bào dân tộc Khmer một năm mới sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt.

Các kiều bào dân tộc Khmer cũng bày tỏ niềm phấn khởi trước sự quan tâm chăm lo của Đảng, Nhà nước thời gian qua. Qua buổi họp mặt này, giúp cho họ hiểu hơn về tình hình của đất nước, thấy được sự đổi mới của quê hương và những tình cảm tốt đẹp mà lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dành cho những đồng bào sống xa Tổ quốc.

Tin, ảnh: THANH THY

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2009

Thực hiện Quyết định 134/TTg: Cung cấp nước sạch cho 4.000 hộ Khmer


Đồng bào dân tộc Khmer xã Đông Bình có nước sạch sử dụng
Trong những năm qua, từ nhiều nguồn vốn: Trung ương hỗ trợ, ngân sách tỉnh đầu tư, dự án WB, Unicef và Chính phủ Úc tài trợ, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường nông thôn (thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Vĩnh Long) đã xây dựng 10 trạm cấp nước tập trung, với công suất từ 5-20m3/ giờ, tổng chiều dài đường ống 123km, có khả năng phục vụ 5.500 hộ dân.

Trong đó, thực hiện chương trình 134 của Thủ tướng Chính phủ, trong 2 năm 2008- 2009, trung tâm đã xây dựng 4 công trình cấp nước tập trung phục vụ nước sạch cho 5 xã có đông đồng bào dân tộc Khmer: Loan Mỹ (Tam Bình), Trà Côn, Tân Mỹ, Hựu Thành (Trà Ôn) và Đông Bình (Bình Minh). Đến nay, có 3 công trình tại Tân Mỹ, Loan Mỹ và Đông Bình đã đưa vào vận hành cấp nước phục vụ nhân dân; 2 công trình còn lại đang khẩn trương hoàn thành xây dựng trong tháng 5/2009. Theo đó, hiện có 7 xã đông đồng bào dân tộc Khmer: Đông Bình, Đông Thành (Bình Minh); Thuận An (Bình Tân), Hựu Thành, Tân Mỹ, Trà Côn (Trà Ôn), Loan Mỹ (Tam Bình) sử dụng nước sạch sinh hoạt từ trạm cấp nước tập trung, với tổng số 4.000 hộ đồng bào dân tộc Khmer, tương đương với khoảng 20.000 người.

Các công trình đang phát huy tác dụng, góp phần thực hiện tốt chính sách của Đảng chăm lo đời sống cho đồng bào dân tộc Khmer, trong đó có nước sạch sử dụng.

Tin, ảnh: HỒNG THƯ

Vấn đề quyền con người ở Việt Nam: Một thực tế không thể xuyên tạc

Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam, do Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao nước ta, ông Phạm Bình Minh, trình bày chiều ngày 8/5 (giờ địa phương) tại khóa họp thứ V của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (LHQ), tổ chức tại Geneva (Thụy Sĩ), với sự tham dự đầy đủ của đại diện 192 quốc gia thành viên cùng nhiều tổ chức của LHQ và các tổ chức quốc tế khác, đã nhận được những phản hồi khác nhau, song đa phần là tích cực.

Đây là lần đầu tiên, Việt Nam trình bày báo cáo quốc gia về việc thực hiện quyền con người tại một diễn đàn quốc tế lớn như vậy. Và đây cũng là việc làm bình thường thuộc trách nhiệm của một nước thành viên LHQ phục vụ cuộc điều tra chung của Hội đồng Nhân quyền LHQ với tất cả các quốc gia thành viên.

Báo cáo của Việt Nam gây được sự chú ý, vì nó đã trình bày một bức tranh tổng thể, nhưng không khái quát mà được cụ thể hóa bằng những dẫn chứng và số liệu, với các cơ sở pháp lý là Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cũng như các cam kết, chủ trương, chính sách và hoạt động thực tiễn của Nhà nước Việt Nam để khẳng định một thực tế là ở Việt Nam, những quyền cơ bản của con người luôn được tôn trọng, bởi lẽ, như báo cáo đã nêu, "Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người".

Một thực tế hiển nhiên không ai có thể phủ nhận là người dân Việt Nam đã và đang được hưởng các quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, trong đó có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam. Họ được bình đẳng trước pháp luật, được quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội; được quyền khiếu nại và tố cáo; được quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe..., không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo, trong đó nhóm dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em, người thiểu số và người khuyết tật) được đặc biệt quan tâm.

Đoàn Đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị tại Geneva, Thụy Sĩ.

Lâu nay, vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, dưới góc nhìn sai lệch của những thế lực vốn có định kiến chính trị với Việt Nam, thường bị xuyên tạc, bị bóp méo.

Với những thông tin toàn diện, có sức thuyết phục về tình hình thực hiện quyền con người ở Việt Nam, Báo cáo của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền LHQ kỳ này là cơ sở để cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn, nhìn nhận khách quan hơn về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.

Sau hơn 20 năm đổi mới, công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và ổn định, bình quân đạt 7,5%/năm. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 200 USD/người (năm 1990) lên 1.024 USD/người (năm 2008). Trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo là ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam. Ưu tiên này cũng là nhằm thúc đẩy các quyền con người, phù hợp với hoàn cảnh của đất nước và các Mục tiêu Thiên niên kỷ (MTTNK) của LHQ.

Việc thực hiện "Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo" được Chính phủ thông qua tháng 5/2002 trên cơ sở Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 đã góp phần giảm tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia từ hơn 60% vào năm 1990 xuống còn 13.8% năm 2008. Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đầu tiên đạt MTTNK về xóa đói giảm nghèo và được quốc tế ghi nhận là một trong những quốc gia đi đầu về xóa đói giảm nghèo.

Xóa đói giảm nghèo phải đi đôi với giải quyết việc làm. Kết quả đạt được trong nỗ lực này là không nhỏ. Trong 8 năm (2001 - 2008), cả nước đã có 12,44 triệu việc làm mới.

Nguyễn Quốc Uy