Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2009

Tất cả học sinh Khmer học 2 thứ tiếng

TP - Tỉnh Sóc Trăng hiện có 67.993 học sinh phổ thông là người dân tộc Khmer và tất cả được học hai thứ chữ Việt và Khmer từ bậc tiểu học đến THCS. Riêng trường dân tộc nội trú Huỳnh Cương học đến bậc THPT.
Chương trình Khmer ngữ được giảng dạy xen kẽ cùng với chương trình phổ thông, trong đó bậc tiểu học 4 tiết/tuần, THCS và THPT 2 tiết/tuần.
Học sinh người dân tộc Khmer được ưu tiên xét tuyển vào học các trường dân tộc nội trú huyện, tỉnh; hằng năm học sinh người dân tộc thi đậu tốt nghiệp THPT được xét cử tuyển vào các trường trung học chuyên nghiệp 100 em, cao đẳng và đại học 40 em. Sóc Trăng hiện có hơn 2.500 giáo viên là người dân tộc Khmer được chuẩn hóa, chiếm 18,7% cán bộ giáo viên toàn tỉnh.
Xuân Lương

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2009

Chùa Khmer: Nơi hội tụ các giá trị văn hóa dân tộc

Đồng bằng sông Cửu Long là nơi hội tụ, nơi dừng chân của những dòng chảy văn hóa theo chiều lịch sử từ Bắc xuống Nam, theo đó, những giá trị văn hóa cùng kết tinh lắng tụ. Vẻ đẹp nơi đây không chỉ ở tâm hồn thuần hậu, chất phác của con người Nam bộ mà còn là sự quyến rũ của nền "Văn minh miệt vườn sông nước”.

Đồng bằng sông Cửu Long là nơi hội tụ, nơi dừng chân của những dòng chảy văn hóa theo chiều lịch sử từ Bắc xuống Nam, theo đó, những giá trị văn hóa cùng kết tinh lắng tụ. Vẻ đẹp nơi đây không chỉ ở tâm hồn thuần hậu, chất phác của con người Nam bộ mà còn là sự quyến rũ của nền "Văn minh miệt vườn sông nước”.

Chủ nhân vẻ đẹp của dải đất phù sa đồng bằng sông Cửu Long này là 4 dân tộc Kinh - Hoa - Khmer - Chăm cùng cộng sinh trên một dải đất phù sa nhưng lại nở ra 4 bông hoa xinh đẹp thuần khiết. Trải qua mấy trăm năm tồn tại và giao lưu, nhưng mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng không lẫn vào đâu được.

Đóng góp cho văn hóa đồng bằng sông Cửu Long phải kể đến bản sắc văn hóa của cộng đồng Khmer, dân tộc Khmer là một tộc người có nền văn hóa truyền thống độc đáo, giàu bản sắc. Đây là tộc người đứng thứ 5 trong các tộc người thiểu số của Việt Nam và đứng thứ nhất trong các tộc người thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long. Khi nghiên cứu về văn hóa Khmer người ta cùng đi từ một mẫu số chung đó là: Ngôi chùa Khmer - Chùa Khmer là sự tổng hòa các sắc thái riêng của văn hóa Khmer gồm: Phong tục, tập quán, hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, các loại hình nghệ thuật dân gian, kiến trúc và điêu khắc, hội họa... Từ xa xưa, người Khmer đến chùa lễ Phật cầu mong cuộc sống an lành hạnh phúc, trẻ em đến chùa học chữ, thanh niên vào chùa để tu học làm người. Chùa trở thành một trung tâm sinh hoạt văn hóa cộng đồng; người Khmer thường có câu "kon lóengana, niêm Khmer, kon lóeng nưng, niêm watt" (nơi nào có người Khmer, nơi ấy có chùa). Đã từ lâu ngôi chùa Khmer là thế đối trọng với những ồn ào của cuộc sống, ngôi chùa Khmer thông qua các vị sư sãi đã góp phần làm lành mạnh các quan hệ xã hội, mỗi khi nó bị xâm phạm, bị tổn thương, ngôi chùa là nơi làm trong sạch bầu không khí cộng đồng, là nơi tĩnh tâm, làm dịu đi những căng thẳng trong tâm hồn. Người Khmer bảo vệ ngôi chùa như bảo vệ cuộc sống của chính mình, họ chấp nhận sự túng thiếu trong phum sóc, nhưng no đủ, đẹp đẽ cho chùa. Ngôi chùa trở thành một nơi ẩn chứa sức mạnh tinh thần, nền tảng đạo đức, luân lý... Mỗi ngôi chùa không chỉ một không gian văn hóa mà còn mang một không gian thiêng, thánh thiện. Con người khi bước vào ngưỡng cửa của chùa như bước vào thế giới thanh tịnh niết bàn. Với người Khmer từ lúc sinh ra, trưởng thành cho đến lúc qua đời, mọi sự buồn vui đều diễn ra ở ngôi chùa. Đạo Phật tiểu thừa mang tính xã hội hóa, nó bám rễ sâu vào đời sống của con người, với tư tưởng nhập thế, theo lẽ sống an bằng, vị tha, vô tư, hỷ xả; các vị sư Khmer với triết lý sống làm phước, họ quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong phum sóc, có mặt trong những lúc người dân khó khăn nhất và không đòi hỏi một điều kiện gì. Nhà chùa có chức năng là một ngôi trường dạy chữ, dạy đạo lý, đóng vai trò của một thiết chế giáo dục, do vậy càng làm tăng thêm sự kính trọng của nhân dân với các nhà sư và ngôi chùa Khmer.

Ngôi chùa Khmer không chỉ là không gian thiêng, giàu tính tâm linh mà còn là một trung tâm hoạt động văn hóa xã hội của người Khmer. Về kiến trúc, ngôi chùa Khmer được xem như một bảo tàng hoàn hảo cả về giá trị văn hóa vật chất lẫn tinh thần, cả về lịch sử lẫn nghệ thuật ... Từ cổng chùa (Khă-Lôông-Thă-Via) đến kiến trúc Chánh điện (Pré-Vihear) từ kiến trúc Sala đến kiến trúc nhà Tăng (Kodh), mỗi công trình đều là một chỉnh thể mỹ thuật hoàn hảo nó chứa đựng triết lý sâu xa với trái tim đầy nhiệt huyết và bàn tay điêu luyện của nghệ nhân người Khmer. Những bức tượng Phật trang nghiêm với tòa sen đồ sộ tỏa sáng sự thông thái và lòng nhân hậu từ bi, với những hình tượng chim thần (Krud-garuda) ưỡn ngực đỡ lấy mái chùa thật khỏe khoắn và dũng mãnh với hình tượng rắn thần NaGa được gắn lên mái chùa, cong vút, vẽ lên nền trời xanh một đường cong kỳ ảo, như mời gọi đức Phật hãy dừng lại để ban phước cho dân lành ... Có lẽ, một ấn tượng làm ta ngỡ ngàng và lưu luyến không nguôi đó là những dải hoa như bất tận, họa tiết tinh xảo và quyến rũ lòng người. Hoa văn dây leo Pha-nhi-vo, Pha-nhi-pha-lơng, hoa văn có dạng như ngọn lửa đang uốn lượn, hoa Đok-chăn-hiên loài hoa thật thanh khiết giản dị, với 4 cánh thể hiện cho 4 phương trời quanh núi vũ trụ Mêru, rồi hoa văn Tuông-Hok, hoa sen, tượng đầu rồng, Kenno ... tất cả được thể hiện hết sức sinh động, với màu sắc nguyên thể, tương phản, cực kỳ rực rỡ, đã phản ánh cảm xúc và tâm hồn thuần hậu, chân chất của người Khmer, nó là bản sắc, là cốt cách tạo nên nền văn hóa dân tộc độc đáo và bền vững, trải với thời gian nền văn hóa ấy chỉ càng đẹp thêm mà không mất đi.

Ngôi chùa Khmer là một bảo tàng giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn diện về phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng và bề dày lịch sử văn hóa của dân tộc Khmer, ngôi chùa còn là sự kết tinh các giá trị đạo đức, thẩm mỹ và nghệ thuật. Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Khmer phải đi từ ngôi chùa, nhưng như thế không có nghĩa là chỉ giữ ngôi chùa thôi mà cần phải giữ gìn môi trường văn hóa, giữ gìn tình yêu quê hương, yêu dân tộc, phải giữ lại các giá trị truyền thống quí giá của dân tộc thông qua các lễ hội và phong tục tập quán.

(An Phat Travel trích theo website Vannghesongcuulong

Phật tử Lâm Es - nhà giáo Khmer đầu tiên được phong tặng Nhà giáo Nhân dân



Suốt chín năm tu ở chùa để trả hiếu, cầu kinh niệm Phật, ông tự mua sách vở tiếng Việt, tiếng Pháp về tự học và tìm kiếm sách tiếng Khmer trong các chùa về tìm hiểu nghiên cứu, dạy chữ Pali cho trẻ nhỏ tại các phum sóc lân cận



Sóc Trăng là tỉnh nghèo ven biển Miền Tây Nam Bộ, nơi có đông người Khmer sinh sống, nhiều nhất khu vực ĐBSCL với trên 364.154 người, chiếm 29,5% dân số toàn tỉnh. Đời sống của bà con người dân tộc Khmer được nâng lên thấy rõ, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần theo từng năm trên 67% hộ Khmer được công nhận gia đình văn hoá.

Những thay đổi đó có một phần đóng góp không nhỏ của đội ngũ trí thức người dân tộc Khmer, họ đã góp nhiều công sức cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà. Họ là những tuyên truyền viên tích cực đưa đường lối chủ trương chính sách, chuyển giao khoa học kỹ thuật đến bà con, xây dựng vững chắc khối khối đại đoàn kết dân tộc.

Tiêu biểu là thầy giáo Lâm Es một phật tử phái Nam Tông (sinh năm 1936) là người Khmer đầu tiên cả nước được Nhà nước phong tặng “Nhà giáo nhân dân”.

Ngày còn nhỏ ông sống vô cùng khổ cực, hằng ngày rong đuổi trên đồng ruộng ấp Trà Tép, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên-Sóc Trăng chăn bò mướn, bắt tép về phụ giúp mẹ.

Lúc đó, ông rất thèm khát được cắp sách đến trường, nhưng rất khó, vì cả làng người đi học đếm được trên đầu ngón tay. Hiểu được ý con, chẳng bao lâu ông được mẹ gởi lên chùa Cần Đước để đi học, ước mơ đã thành hiện thực, ăn cơm chùa, áo quần bà con phum sóc cho.

Suốt chín năm tu ở chùa để trả hiếu, cầu kinh niệm Phật, ông tự mua sách vở tiếng Việt, tiếng Pháp về tự học và tìm kiếm sách tiếng Khmer trong các chùa về tìm hiểu nghiên cứu, dạy chữ Pali cho trẻ nhỏ tại các phum sóc lân cận.

Năm 1972, lúc bấy giờ chưa có sách hướng dẫn giáo trình Khmer ngữ, theo sự hiểu biết của mình vừa dạy học vừa nghiên cứu, cùng với tính kiên nhẫn, Thầy đã soạn một giáo trình tiếng Khmer ngữ bậc tiểu học khá hoàn chỉnh, bằng phương pháp tự học, ông đã đỗ tú tài và đạt trình độ cử nhân Khmer ngữ.

Năm 1975 đất nước thống nhất, Thầy được mời về Sở giáo dục Hậu Giang cũ phụ trách chương trình Khmer ngữ. Năm 1982 Thầy tốt nghiệp đại học khoa ngữ văn trường Đại học Cần Thơ.

Năm 1992 khi tái lập tỉnh Sóc Trăng Thầy được điều động về quê hương Sóc Trăng được bổ nhiệm Phó giám đốc sở giáo dục đào tạo.

Lúc này công việc rất nhiều, nhưng Thầy sắp xếp thời gian họp lý vừa nghiên cứu tài liệu tiếng Khmer để viết giáo trình, biên soạn tài liệu, đồng thời lên lớp giảng bài cho sinh viên đang theo học các lớp Khmer ngữ và đi xuống địa phương tìm hiểu phương pháp giảng dạy Khmer ngữ ở các trường tiểu học và trung học cơ sở…

Suốt gần bốn mươi năm làm nghề giáo và công tác quản lý giáo dục, vừa nghiên cứu, giảng dạy thầy Lâm Es đã tham gia bồi dưỡng hơn 1.500 giáo viên người dân tộc Khmer trong đó có trên 700 là giáo viên dạy song ngữ hàng trăm cán bộ quản lý các cấp ở bảy tỉnh ĐBSCL.

Trong quá trình giảng dạy, thầy miệt mài ghi chép tra cứu tích luỹ kiến thức, với niềm say mê cao độ với mong muốn cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp giáo dục trong cộng đồng Khmer Nam Bộ.

Thầy Lâm Es đã biên soạn gần 50 đầu sách tiếng Khmer, trong đo có 30 bộ được công nhận: Tài liệu dành cho cán bộ giáo viên dạy lớp cán bộ cốt can làm công tác Khmer vận, sổ tay song ngữ Việt-Khmer, giáo trình tự học tiếng Khmer, tài liệu dạy tiếng Khmer cho giáo viên cấp I & II, chuyện kể Khmer, sách tham khảo…

Ngoài ra, bộ sách gồm ba quyển hơn 1.000 trang là giáo trình hướng dẫn dạy tiếng Khmer trong các trường trung học sư phạm được Bộ Giáo Dục Đào Tạo đánh giá rất cao, là một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục công phu. Những tâm huyết của Thầy có tác dụng tích cực trong việc bảo quản gìn giữ vốn văn hoá chữ PaLy của dân tộc Khmer.

Thầy Lâm Es gần cả cuộc đời cho sự nghiệp giáo dục đặc biệt đối với đồng bào Khmer. Từ một cậu bé đống khố, một người tu hành chân chính, không biết chữ đã trở thành một tấm gương sáng về tinh thần học tập, lao động đầy sức sáng tạo, một trí thức Khmer mẫu mực.

Dù đã nghỉ hưu nhưng Thầy vẫn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và được bầu giữ Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Sóc Trăng từ năm 2004 đến nay.

Chỉ bốn năm qua, bằng tâm huyết của mình Thầy cùng tập thể Hội đã vận động các mạnh thường quân các nhà hảo tâm trong và ngoài tỉnh đóng góp vào Quỹ Khuyến học hơn bảy tỷ đồng, để khen thưởng “Quỹ tài năng trẻ” cho hơn 2.700 học sinh sinh viên các cấp cấp học; đặc biệt là cấp học bổng cho học sinh, sinh viên nghèo hiếu học.

Dù ở cương vị nào Thầy Lâm Es cũng chỉ mong muốn được góp một phần nhỏ bé của mình trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng phum sóc làng quê đổi mới, ngày càng thêm giàu đẹp trên bước đường công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.

Phương Nghi

Bà con Khmer chuẩn bị đón Tết Kỷ Sửu 2009

Hiện nay, nhiều gia đình người dân tộc Khmer của huyện Trần Văn Thời được hỗ trợ nhà theo Chương trình 135, 134 của Chính phủ đã chuẩn bị đón Tết Nguyên đán Kỷ Sửu 2009.

Huyện Trần Văn Thời có gần 1.900 hộ người dân tộc Khmer, với hơn 9.000 nhân khẩu, từ khi có Chương trình 135, 134 của Chính phủ đã hỗ trợ nhiều hộ có nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt… trong đó có hơn 200 hộ người dân tộc Khmer của xã Khánh Bình Tây. Mặc dù còn 3 tuần nữa mới đến Tết nhưng các gia đình ở đây đã chuẩn bị cho cái Tết. Nhờ có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước mà Tết năm nay, người dân tộc Khmer của huyện Trần Văn Thời cũng như mọi người dân trong tỉnh có một cái Tết vui tươi, no ấm, an lành và hạnh phúc./.


PV: Tiến Sơn

An Giang: Dạy nghề miễn phí cho 5.000 LĐ người Khmer/năm

(LĐ) - Đó là chỉ tiêu tại Đề án "Đào tạo nghề, GQVL và giảm nghèo đến năm 2010 và định hướng đến năm 2015 trong đồng bào dân tộc Khmer tại An Giang" đang được triển khai.

Theo đó, ngoài dạy nghề, mỗi năm còn phấn đấu tạo việc làm mới cho 2.500 LĐ người dân tộc Khmer.

L.N.G

Nhạc cưới Khmer


Ca nhạc là một phần không thể thiếu trong đám cưới cổ truyền của người Khmer ở Nam bộ cũng như của nhiều tộc khác ở Việt Nam.


Ngày nay, lễ cưới của người Khmer ở Nam bộ đã có nhiều đổi thay, song những bài hát cưới cổ truyền vẫn còn được lưu giữ trong nhân dân.

Các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được hàng chục bài hát lễ thức dành riêng cho đám cưới và những bài dân ca thông thường được sử dụng cho đám cưới thêm vui tươi. Tập hợp những bài đã sưu tầm được có thể dựng nên một liên ca khúc phản ánh mọi nghi thức của đám cưới cổ truyền Khmer từ lúc đưa chú rể sang nhà gái, xin mở rào để vào nhà gái, bắt đầu cuộc vui, các lễ thức cắt tóc, giã thuốc nhuộm răng, cắt hoa cau để làm lễ rắc hoa cau cho cô dâu chú rể, lễ rút gươm khỏi bao, lễ buộc chỉ cổ tay, lễ lạy mặt trời, lễ nhập phòng, lễ quét chiếu, lễ chào cha mẹ họ hàng... cho tới khi tiễn khách ra về.

Nguồn :Tổng cục Du lịch Việt Nam

Việt Nam bác bỏ luận điệu của Human Rights Watch

Đồng bào Khmer ở Nam Bộ là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước Việt Nam không cho phép bất cứ một hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.

Ngày 22-1, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã bác bỏ các thông tin bịa đặt trong báo cáo mới đây của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) liên quan đến đồng bào Khmer ở Việt Nam. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Dũng phát biểu như trên khi được hỏi về phản ứng của Việt Nam đối với bản báo cáo gần đây của HRW, trong đó tố cáo việc những người Khmer Krom tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long bị đàn áp, hạn chế các quyền tự do tôn giáo và tự do ngôn luận?

"Đây không phải là lần đầu tiên Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đưa ra những thông tin sai trái về Việt Nam," ông Lê Dũng nói. "Cần khẳng định, tại Việt Nam, các quyền tự do cơ bản của người dân, trong đó có tự do ngôn luận và tự do tôn giáo được ghi rõ trong Hiến pháp (điều 69 và 70)".

Người phát ngôn khẳng định, đồng bào Khmer ở Nam Bộ là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, không cho phép bất cứ một hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Điều này được ghi rõ trong Hiến pháp và được tôn trọng trên thực tế. Các dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc Khmer, được đối xử bình đẳng và được Nhà nước hết sức quan tâm, tạo mọi điều kiện cải thiện đời sống vật chất và tinh thần.

Năm 2008, chính quyền địa phương đã tạo 358 ngàn việc làm mới cho đồng bào Khmer (tăng khoảng 1,2% so với năm 2007). 4000 người dân tộc Khmer được đi làm việc ở nước ngoài. GDP bình quân đầu người ước đạt 14,8 triệu đồng (tương đương 890 USD), số hộ nghèo giảm còn khoảng 11,2% (giảm hơn 1,6% so với năm 2007).

Đài phát thanh và Đài truyền hình tỉnh đã có chương trình tiếng Khmer. Các tỉnh có đông đồng bào Khmer đều có báo hàng tuần bằng tiếng Khmer. Các cơ sở thờ tự của đồng bào Khmer được chính quyền địa phương quan tâm, tạo điều kiện tu sửa và xây dựng mới. Nhân dân các dân tộc trong vùng tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng.

Theo người phát ngôn Bộ Ngoại giao, thời gian gần đây, ở một số địa phương, trong quá trình thu hồi, đền bù đất đai phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng kết cấu hạ tầng, đã xảy ra những khiếu kiện của một số người dân do không đồng tình với mức đền bù. Chính quyền các địa phương nói trên đã và đang tích cực giải quyết các vướng mắc liên quan đến đất đai theo đúng các quy định của pháp luật và điều kiện thực tế của địa phương.

"Hoàn toàn không có việc đàn áp hay hạn chế quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, tự do ngôn luận đối với những người dân tộc Khmer tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long" - ông Lê Dũng nhấn mạnh./.

VOVNews