| | |||
Anh Sơn Dũng ở khóm 1 trồng 2 công dưa hấu trên ruộng lúa. Sau hơn 2 tháng chăm sóc, đến giữa tháng 12/2008, anh thu hoạch 2 công dưa hấu, đạt năng suất hơn 4 tấn. Với giá bán tại ruộng 3.600 đồng/kg, 2 công dưa hấu cho thu nhập hơn 15 triệu đồng, trừ chi phí anh lãi gần 10 triệu đồng. Anh phấn khởi nói: “Năm nay, do thời tiết bất thường nên dưa hấu không sai quả bằng năm ngoái. Chi phí mỗi công dưa cũng tăng khoảng 30% nhưng nhờ thu hoạch vào dịp Tết Dương lịch, bán giá cao hơn nên nông dân vẫn có lãi khá”. Tương tự, anh Thạch Sinh ở cùng khóm cũng vừa thu hoạch 1 công dưa hấu, bán được hơn 6 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí, anh lãi hơn 3 triệu đồng. Anh đang trồng tiếp đợt dưa hấu thứ 2 để bán vào dịp rằm tháng Giêng. Dẫn tôi thăm 2 công dưa hấu đang thu hoạch, nâng niu những trái dưa bóng láng, to tròn, anh Vu Vàng cho biết dưa hấu trồng trên ruộng lúa, năng suất thấp nhất cũng đạt 2 tấn trái/công. Với giá bán như hiện nay, mỗi công dưa hấu cho lợi nhuận gấp 2-3 lần trồng lúa. Phần lớn người trồng dưa hấu nơi đây đều sử dụng màng phủ nông nghiệp, áp dụng IPM trong phòng trừ sâu bệnh nên cũng giảm chi phí đáng kể. Người dân nơi đây còn tự tạo giống dư hấu để trồng bằng cách ghép giống dưa hấu với bầu do các nhà khoa học ở Khoa Nông nghiệp, trường Đại học Cần Thơ hướng dẫn. Anh Vàng và vợ là chị Thạch Thị Bé Ba cũng học và ghép thành công, trồng nhiều vụ dưa hấu đạt hiệu quả cao. Hơn 10 năm trồng dưa hấu, ông Thạch Đen ở khóm Trà Kha, phường 8, thị xã Bạc Liêu là người có nhiều kinh nghiệm trong trồng dư hấu bán Tết nên ruộng dưa ông luôn đạt năng suất cao. Theo ông Đen, để dưa hấu đạt năng suất cao, ngoài việc chú ý chọn giống đạt năng suất, chất lượng, trong quá trình trồng phải chú ý đến yếu tố thời tiết để có cách hạn chế ảnh hưởng và chế độ chăm sóc phân, nước theo 4 đúng. Hiện 4 công dưa hấu của ông đang phát triển tốt, trái to, đều và sẽ thu hoạch cuối tháng 12-2008, năng suất đạt khoảng 3 tấn/công. Với giá bán hơn 3.000 đồng/kg, 4 công dưa cho thu khoảng 40 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí, ông còn lãi gần 30 triệu đồng. Nhờ trồng dưa hấu, nhiều hộ Khmer nơi đây có cuộc sống ổn định, vươn lên khá giàu. Phường 8, TX Bạc Liêu hiện có hơn 20 hộ Khmer trồng dưa hấu trên ruộng lúa, với diện tích trên 10 ha. Đây là vùng trồng dưa truyền thống và có tiếng của Bạc Liêu. Kỹ sư Trần Tú Quỳnh, cán bộ nông nghiệp thị xã Bạc Liêu tăng cường về phường 8 cho biết: “Thị xã Bạc Liêu khuyến khích người dân đưa màu xuống ruộng, đặc biệt là trồng dưa hấu trên ruộng lúa bằng cách hỗ trợ kỹ thuật, giống… Ngoài việc dưa hấu cho lợi nhuận cao hơn trồng lúa, việc luân canh cây trồng giúp đất giữ được độ tơi xốp, màu mỡ, hạn chế được sâu bệnh”. Minh Đạt |
Thứ Tư, 11 tháng 2, 2009
Nông dân Khmer Bạc Liêu trúng đậm mùa dưa hấu
Người Khmer Nam Bộ
Dân tộc Khmer có trên một triệu ba trăm người, cư trú xen kẽ giữa người Kinh, người Hoa và một số dân tộc khác, tập trung đông nhất là trên đất giồng cát, ven sông ở Sóc Trăng, Hậu Giang, An Giang, Trà Vinh.
Người Khmer sinh cơ lập nghiệp lâu đời trên vùng đất sông nước, chủ yếu bằng kinh tế sản xuất lúa nước, trồng rẫy và khai thác thuỷ sản, tạo giống lúa mới thích hợp với nhiều loại đất phèn, đất nước lợ, đất bồi phù sa và nghề thủ công truyền thống.
Dân tộc Khmer có nhiều lễ hội bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Phật: Tết Chôl Chnăm Thmây (mừng năm mới) với nghi lễ tắm tượng Phật bằng nước thơm; Lễ Phật Đản; Lễ đôlta (báo hiếu-xá tội vong nhân); Lễ hội Óoc Oom Bóc (cúng trăng)…
Là một dân tộc mộ đạo nên phần lớn các phum, sóc đều có chùa để dân chúng đến tụng kinh, thờ Phật. Chùa đối với người Khmer là sự gắn bó thiêng liêng cả đời người. Hiện khu vực ĐBSCL có khoảng 600 chùa ở những nơi có người Khmer sinh sống.
Trong mỗi chùa có nhiều sư, đứng đầu là sư cả. Nhà chùa ngoài việc đọc kinh, lễ Phật còn tổ chức dạy chữ Khmer, truyền bá kinh nghiệm sản xuất là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng, nên bất kỳ lễ hội nào cũng tổ chức tại Chùa.
Những chùa lớn thường có dàn nhạc ngũ âm, đội ghe ngo. Người Khmer phần lớn theo đạo Phật (phái nam tông), một số ít khác theo đạo Bà La Môn. Lớn lên được tu dưỡng trong tinh thần Phật giáo xuống tóc đi tu, học giáo lý Phật và học văn hoá trước khi bước vào cuộc sống tự lập của người trưởng thành. Khi chết, người Khmer hoả táng và tro được gửi lên chùa.
Chùa trở thành trung tâm tín ngường, cõi thiêng và cũng là nơi sinh hoạt cộng đồng của cư dân Khmer. Phum, sóc, là tổ chức của cộng đồng giống như thôn làng.
Nhà cửa người Khmer trước đây là nhà sàn, tuy nhiên qua nhiều thập niên lại đây nhà sàn chỉ còn một số ít dọc biên giới Campuchia. Phần lớn cư dân làm nhà giống như người Kinh, người Hoa. Cách sắp đặt, tổ chức nhà ở nhìn bên ngoài có cảm giác không khác gì nhà người Kinh, một nửa là bếp núc và nửa còn lại là nhà ở. Phần này được ngăn đôi theo chiều dọc, phần trước dùng để tiếp khách và bàn thờ Phật.
Nửa sau, bên phải là buồng của vợ chồng gia chủ, bên trái là buồng ngủ của con gái. Sự bố trí tuy đơn giản như vậy nhưng không được phép tuỳ ý thay đổi.
Người Khmer tuy sống giữa cộng đồng người Việt hàng chục thế kỷ, nhưng họ luôn giữ bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc mình, được thể hiện qua chữ viết Paly, lễ hội, trang phục cũng như những sinh hoạt cộng đồng khác, người Khmer có chữ viết Paly riêng.
Ngày nay các em học sinh ngoài học chữ phổ thông, nhà trường vẫn dạy và học chữ viết truyền thống dân tộc. Khi qua đời, người Khmer phổ biến dùng hình thức hoả táng. Trước đây việc hoả táng thực hiện ngoài đồng, nơi xa dân cư, nhưng ngày nay nhiều phum sóc đã xây dựng nhiều lò hoả táng cải tiến, vừa văn minh, tiện lợi lại hợp vệ sinh mà vẫn giữ được nét phong tục lâu đời. Sau đó, một phần tro được để vào thố và đem thờ tự trong chùa.
Trang phục truyền thống của người Khmer được bảo tồn qua nhiều thế hệ. Người đàn ông hàng ngày mặc bà ba đen, quấn khăn rằn. Ngày lễ họ mặc áo bà ba trắng, quần đen, quàng khăn trắng quấn chéo vắt lên vai trái.
Chú rể trong đám cưới mặc sarong, áo ngắn màu đỏ, quàng khăn trắng vắt qua vai trái, đem thêm con dao tượng trưng, ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Nhưng nét riêng trang phục của dân tộc thể hiện rõ rệt hơn ở người phụ nữ là mặc váy dệt bằng sợi tơ ằm.
Trong những ngày lễ lớn kéo dài cả tuần, người phụ nữ đi dự lễ, mỗi ngày mặc một chiếc váy màu sắc khác nhau. Ngày cưới cô dâu thường mặc váy, gọi là Săm Pôl Hoil màu tím sẫm, áo dài tăm ong màu đỏ thẩm, quàng khăn chéo qua người, đội mũ tháp nhọn.
Những trang phục mang tính truyền thống và thường được dùng trong những ngày lễ lớn của cộng đồng Khmer. Còn hàng ngày, giữa người Khmer, người Kinh, người Chăm, người Stiêng... tuy vẫn giữ nét riêng đặc sắc dân tộc mình, nhưng cũng có nhiều nét pha trộn, học hỏi lẫn nhau, đặc biệt ở lớp trẻ, miễn là đẹp mắt, hợp thời đại và tiện lợi trong sinh hoạt.
Đến với phum sóc Khmer vào dịp đón tết Chôl-chnăm-thmây bạn phải nhớ ăn mặc đúng trang phục lễ hội. Đây là lễ hội Mừng Năm Mới của người Khmer Nam Bộ. Đêm giao thừa người Khmer làm lễ, dâng bánh trái cây lên chùa, tại đây các đôi trai gái sánh vai nhau nhịp nhàng với điệu múa lâm thôn trong tiếng nhạc ngũ âm trầm trầm vang vang như làm tăng thêm múa, nơi kia từng cặp say sưa với điệu múa Adây.
Lễ chùa xong cũng là lúc bình minh chiếu rọi những tia sáng đầu tiên của ngày đầu năm mới. Mọi người tay bắt mặt mừng chúc nhau những điều tốt đẹp nhất. Suốt cả ngày hôm đó dân phum sóc, trai trẻ vui chơi nhảy múa tập thể Lâmvông, Sadăm... dập dìu suốt cả ngày tới thâu đêm.
Trong bữa cơm năm mới, ngoài các loại bánh quen thuộc như bánh chưng bánh tét, bánh ú, bánh in…người Khmer không thể thiếu món bún. Món ăn này đặc sắc nhờ vào nồi nước lèo, được nấu từ mắm bò hốc giã nhỏ với cá lóc nguyên con và nhiều gia vị quen thuộc. Đó là món ăn đặc biệt trong ngày tết của người Khmer Nam bộ.
Phương Nghi
Thứ Hai, 9 tháng 2, 2009
Cần Thơ: Đầu tư phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc Khmer (26/09/2008)
Thành phố Cần Thơ luôn quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho bà con dân tộc Khmer. Bằng nhiều nguồn vốn, thành phố đã tập trung đầu tư, hỗ trợ vùng đồng bằng dân tộc Khmer đặc biệt khó khăn, tạo chuyển biến toàn diện về kinh tế xã hội. Chương trình 134 đã đầu tư trên 12,9 tỷ đồng hỗ trợ bà con 2.441 căn nhà, 2.528 hộ được giúp về nước sạch sinh hoạt, nâng số lượng hộ dân Khmer sử dụng nước sạch lên trên 3.577 hộ( chiếm 78%), 3.760 hộ sử dụng điện lưới (chiếm 82%). Việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp, từng bước làm thay đổi tập quán sản xuất cũ. Hệ thống đê bao thủy lợi khép kín, thâm canh
Thành phố Cần Thơ còn chăm lo đời sống tinh thần cho bà con, bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ. Thành phố tặng 5 bộ dàn nhạc ngũ âm cho 4 chùa và trường trung học nội trú, quận Ô Môn hỗ trợ 1 ghe Ngo phục vụ các lễ hội của bà con. 24 em người dân tộc Khmer được đào tạo các lớp diễn viên múa, nhạc công. Đội văn nghệ Khmer hát “Dù kê” được thành lập, đáp ứng nhu cầu hưởng thu văn hóa, văn nghệ của cộng đồng. Các chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng Khmer tăng thời lượng phát sóng lên 4 giờ mỗi ngày, báo Cần Thơ ngữ Khmer phát hành mỗi tuần trên 6.500 tờ, báo tin, ảnh Dân tộc miền núi dược phát hành mỗi tháng đến tận các chùa, đến sư sãi trong vùng. Nhà nước hỗ trợ xây dựng các lò hỏa táng tập trung ở 4 điểm chùa đáp ứng yêu cầu tín ngưỡng, phong tục tập quán của bà con dân tộc Khmer trên địa bàn. Được biết, thành phố hiện có 22.290 người dân tộc Khmer, chiếm 1,94% dân số, tập trung ở huyện Ô Môn và Cờ Đỏ, chủ yếu sống bằng nghề nông.
(TheoMonre.net)
Hoàng Lan
Sóc Trăng: 200 tỷ đồng đầu tư vùng đồng bào Khmer
Trong năm 2008, thông qua các chương trình, dự án, tỉnh Sóc Trăng chi trên 200 tỷ đồng thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với các hộ đồng bào dân tộc Khmer, tạo điều kiện cho họ ổn định cuộc sống và phát triển sản xuất.
Ông Lê Văn Cần, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho biết hiện nay số hộ Khmer nghèo cần hỗ trợ về nhà ở, đất ở, điện sinh hoạt, nước sạch là 20.662 hộ.Đến cuối tháng 9/2008, tỉnh đã xây 6.800 căn nhà tình thương cấp cho người dân; hỗ trợ 34 tỷ đồng cho các địa phương xây dựng các trạm cấp nước sạch ở các cụm dân cư, nhờ đó đến nay đã có 90% số hộ Khmer có nước sạch sinh hoạt.UBND tỉnh đã phê duyệt kinh phí hỗ trợ dầu hỏa thắp sáng, mua bảo hiểm y tế cho người nghèo. Trước tình hình giá cả tăng cao và diện tích nuôi tôm của người dân bị thiệt hại nhiều, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành nông nghiệp lập danh sách và hỗ trợ trên 1 tỷ đồng chi phí lúa giống cho các hộ Khmer chuyển sang trồng lúa ở 2 huyện Mỹ Xuyên và Vĩnh Châu, nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống.Đối với các hộ nghèo không có đất ở, đất sản xuất, do quỹ đất không còn, tỉnh đã lập phương án chuyển đổi sang dạy nghề cho đồng bào Khmer với tổng số tiền được vay trên 50 triệu đồng/hộ để xây nhà và phát triển sản xuất trong thời hạn 5 năm với lãi suất 0%.Ngoài số tiền được vay nói trên, các hộ còn được vay thêm 20 triệu đồng/hộ và 100 triệu đồng/hộ đối với vùng đặc biệt khó khăn với lãi suất thấp để phát triển sản xuất.
Theo TTXVN
CHƯƠNG TRÌNH 134,135: GÓP PHẦN KHỞI SẮC Ở THẠNH TRỊ
Thạnh Trị (Sóc Trăng) là huyện vùng nông thôn sâu có đông người dân tộc Khmer sinh sống chiếm 37,7% có 6 xã đặc biệt khó khăn. Những năm qua, nhờ triển khai đồng bộ có hiệu quả CT 134, 135 nên diện mạo nông thôn Thạnh Trị đã có nhiều khởi sắc.
Ban chỉ đạo XĐGN của huyện xây dựng đề án nhằm hỗ trợ về vốn, khoa học kỹ thuật, cây, con giống sao cho phù hợp với điều kiện sản xuất của từng hộ. Hiện nay một mô hình mang tính khép kín đang được rất nhiều hộ nông dân trong vùng triển khai thực hiện có hiệu quả. Đó là nuôi bò, lấy phân nuôi trùn quế để cung cấp cho các hộ nuôi cá bống tượng đem lại lợi ích kinh tế khá cao, hay mô hình trồng lúa kết hợp nuôi cá rô đồng… đã giúp nhiều hộ không những thoát nghèo bền vững, mà còn vươn lên trong cuộc sống.
Trong ba năm qua, bằng nguồn vốn Chương trình 134 hỗ trợ đã xây dựng bàn giao gần 4.000 căn (mỗi căn trị giá từ 5-6 triệu đồng) cho các hộ dân tộc Khmer nghèo bức xúc về nhà ở và cơ bản đã giải quyết xong về vấn đề nhà ở cho những hộ có nhu cầu. Các đoàn thể như Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Cựu chiến binh, Hội nông dân… phối hợp với trạm khuyến nông-khuyến ngư-bảo vệ thực vật mở hàng trăm lớp tập huấn, hội thảo phổ biến kiến thức kỹ thuật, qui trình canh tác sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản cho hội viên. Từ đó đã xuất hiện nhiều mô hình tiêu biểu có hiệu quả kinh tế khá cao trong cộng đồng người dân tộc Khmer như mô hình đưa màu xuống chân ruộng lúa ở Lâm Kiết, Tuân Tức cho thu nhập trên 70 triệu đồng/ha, hay mô hình sản xuất lúa chất lượng cao (với 2 vụ/năm cho năng suất trên 11 tấn/ha/năm) ở Thạnh Tân, Thạnh Trị cho thu nhập trên 50 triệu đồng/ha, mô hình nuôi cá rô đồng trong ruộng lúa ở Thị trấn Phú Lộc, Lâm Tân, Châu Hưng…vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa góp phần bảo vệ môi trường cho thu nhập từ 30-45 triệu đồng/ha.
Hiện nay, hệ thống đường giao thông đã có 100% đường liên ấp liên xã; 50% đường ấp liền ấp và 70% hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia; 50% hộ dân được dùng nước sạch; 100% xã có Trường tiểu học & Trung học cơ sở; 100% xã có trạm y tế. Về nước sạch, đang triển khai theo mô hình giếng khoan; cung cấp lu chứa nước; cây nước tập trung cho cụm dân cư, dự kiến đến cuối năm 2008 cơ bản sẽ có 80% hộ dân Khmer được sử dụng.
PHƯƠNG NGHI
Ở nước CHXHCN Việt Nam không tồn tại “Quyền của người bản địa”
Khái niệm “người bản địa” và “quyền của người bản địa” đã lùi về quá khứ. Thay cho khái niệm đó là khái niệm quyền công dân – là quyền của tất cả mọi người Việt Nam, không phân biệt họ là dân tộc thiểu số hay đa số. Đó là một sự thật lịch sử không ai có thể bác bỏ được
Trong thời gian gần đây, các phần tử dân tộc cực đoan, nhất là những kẻ đang sống lưu vong ở nước ngoài lợi dụng bản Tuyên ngôn quyền của người bản địa ráo riết vận động đồng bào các đân tộc thiểu số nước ta, trong đó có đồng bào Khmer đòi quyền tự quyết, rằng đó là những quyền đã được Liên hợp quốc tuyên bố. Họ xúi dục đồng bào ta đòi “tự do lập hội”, “ra báo độc lập”, ‘Thành lập giáo hội Phật giáo riêng của mình”…Trắng trợn hơn, họ còn đòi thừa nhận địa bàn cư trú của đồng bào Khmer là một lãnh thổ tự trị…Tất cả những điều chúng kêu gọi đều là hành động vi phạm pháp luật, nhằm gây mất ổn định chính trị- xã hội, chia rẽ dân tộc, phá họai khối đại đòa kết toàn dân, . … từng bước đi tới phá vỡ sự toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước của dân tộc ta.
Quyền dân tộc tự quyết ( The Rights of self determination ) và quyền của người bản địa ( The Rights Indigenous Peoples) là hai khái niệm tuy có quan hệ với nhau, song hoàn toàn khác nhau về nội dung nhất là ý nghĩa chính trị. Quyền dân tộc tự quyết là quyền của quốc gia- dân tộc, với tư cách là chủ thể của luật quốc tế . Còn quyền của người bản địa là những quyền của các dân tộc thiểu số ( Ethnic Minority), hoặc nhóm sắc tộc ( Race Grops) thường là những quyền về văn hóa- xã hội của một bộ phận dân cư trong lòng một quốc gia-dân tộc nào đó
Khái niệm “người bản địa”, có nguồn gốc lịch sử, gắn liền với thời kỳ chủ nghĩa đế quốc tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược, áp đặt sự thống trị của họ ở các quốc gia chậm phát triển. Chiến lược di dân khai thác thuộc địa tiếp nối các đội quân viễn chinh đã dẫn đến sự phân hoá, hình thành hai nhóm và hai tầng lớp xã hội ở những quốc gia này : -Tầng lớp những người nước ngoài, bao gồm “các quan cai trị” cùng với những người di cư đến đây làm ăn , họ có mối quan hệ mật thiết với bộ máy cai trị của thực dân . Tầng lớp này thuộc đẳng cấp có nhiều đặc quyền, đặc lợi.- Cộng đồng những người dân thuộc địa còn lại được gọi là những người “bản địa” hoặc “người bản xứ”, họ thuộc đẳng cấp thấp hèn. Ở Việt Nam dưới sự cai trị của chủ nghĩa thực dân, không kể họ thuộc tầng lớp nào, dân tộc nào, là người giầu hay nghèo, là trí thức hay người lao động, là người Kinh, người Mường, người Tày, người Nùng, người Dao, người Ê Đê, người Gia Rai, người Khme hay người Mông … họ đều được gọi chung là những tên “Annammit” với nghĩa miệt thị, khinh bỉ. Nhiều hồi ký của các nhà cách mạng, các sĩ phu, các nhà trí thức chân chính đã ghi lại rằng sở dĩ họ tìm đến và đi theo cách mạng, ban đầu chính là vì họ không thể chịu đựng được những kẻ xâm lược đã xúc phạm nhân phẩm, danh dự gọi họ bằng cai tên Annammit.
Giả sử ở vào bối cảnh dân tộc ta còn nằm dưới ánh thống trị của chủ nghĩa thực dân, liệu những kẻ đang đòi “ quyền của người bản địa” có dám hung hăng như ngày nay không?
Ở nước ta, trước khi thực dân Pháp xâm lược, tất cả các dân tộc đều đã cùng nhau khai sơn, phá thạch, đổ không biết bao nhiêu mồ hôi, xương máu để xây dựng và giữ gìn mảnh đất này. Có thể nói, 54 dân tộc hiện đang sống trên Tổ quốc Việt Nam đều đã chôn nhau, cắt rốn, sinh sống trên mảnh đất này ngay từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc. Nếu theo quan điểm : hễ dân tộc nào có mặt đầu tiên trên mảnh đất mà ngày nay họ đang sinh sống… là “người bản địa” thì tất cả 54 dân tộc anh em sống trên đất nước ta đều là người bản địa ! Họ đang ở cả Bắc,Trung, Nam, ở cả đồng bằng, trung du, miền núi . Họ có thể là người Nam Định, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Cao Bằng, Lạng Sơn, Cần Thơ, An Giang,…thậm chí cả ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh…tất cả họ đều là người bản địa, vì không ít con cháu của những người sinh ra ở đây vẫn đang sinh sống trên quê cha, đất tổ của mình! Cũng theo lập luận của họ thì tất cả 54 dân tộc đều có “quyền tự trị”- có lãnh địa, có thiết chế , có văn hóa, có tổ chức tôn giao riêng… thử hỏi nếu những đòi hỏi này được đáp ứng thì liệu dân tộc Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam có còn nữa hay không ? Như vậy là, khái niệm “người bản địa” chỉ mới ra đời ở Việt Nam từ khi nước ta trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân và nó chỉ tồn tại với chế độ đó. Khái niệm này khác với khái niệm dân tộc thiểu số mà chúng ta thường dùng để phân biệt các dân tộc ít người với đồng bào Kinh
Ngày nay, khi nhân dân ta đã giành được độc lập, đất nước ta đã thống nhất, nhà nước ta là nhà nước của tất cả các dân tộc,… thì khái niệm “người bản địa” và “quyền của người bản địa” đã lùi về quá khứ. Thay cho khái niệm đó là khái niệm quyền công dân- là quyền của tất cả mọi người Việt Nam, không phân biệt họ là dân tộc thiểu số hay đa số. Đó là một sự thật lịch sử không ai có thể bác bỏ được. Đồng thời cũng không một dân tộc nào mong muốn điều đó tồn tại hoặc quay trở lại. Nhân đây cũng phải nói thêm rằng, nhờ có chính sách của Đảng và Nhà nước ta, sau Cách mạnh thành công, nhiều dân tộc thiểu số, có dân số rất nhỏ, chưa từng được phát hiện, đời sống hết sức khó khăn đã được chính quyền và quân đội giúp đỡ về mọi mặt. Ngày nay đồng bào đã có cuộc sống ổn định, no đủ, trong đó có đồng bao Rục, Cờ Ho…Để ghi nhớ công ơn cách mạng có dân tộc đã tự nhận họ Hồ là họ chung của cả dân tộc mình.
Không phủ nhận rằng, trong lịch sử hình thành các dân tộc, sau các cuộc chiến tranh xâm lược, di dân từ “chính quốc” đến thuộc địa…đã hình thành những quốc gia – dân tộc mới. Ở những quốc gia này vẫn tồn tại 2 nhóm xã hội: nhóm người từ nước ngoài, thường chiếm số đông và nhóm người bản xứ, thường là các nhóm dân tộc thiểu số ( Minority grop) hoặc các nhóm sắc tộc (Race grop). Những nhóm xã hội này thường vẫn muốn duy trì phong tục, tập quán, ngôn ngữ, lối sống riêng của mình. Có thể xem Hoa Kỳ, Canada và Úc là những ví dụ. Trong những quốc gia này, khái niệm “người bản địa” vẫn tồn tại và còn có những ý nghĩa nào đó. Ở Việt Nam, sau cách mạng cho đến nay hoàn toàn không có bối cảnh lịch sử cho sự tồn tại của khái niệm này.
Thật đáng tiếc, người ta không thể tìm thấy một khái niệm “người bản địa” được mọi người thừa nhận , đơn giản vì đó là một thuật ngữ xã hội chính trị. Cho đến nay, nhiều từ điển, nhiều tổ chức, kể cả Liên hợp quốc đã đưa ra những quan niệm khác nhau, thậm chí là mâu thuẫn với nhau về khái niệm này. Chính trong Tuyên ngôn nói trên cũng không đưa ra định nghĩa thế nào là người bản địa. Chính vì lý do đó nên người ta buộc phải thừa nhận “người bản địa” là một khái niệm “mở” theo nghĩa: một nhóm xã hội, một dân tộc nào đó có thể tự nhận hoặc phủ nhận mình là “người bản địa” … nếu quan niệm đó phù hợp với lợi ích của họ. Mặt khác, trong phạm vi quyền tài phán, một nhà nước, một chính phủ hoàn toàn có quyền thừa nhận hoặc phủ nhận một nhóm, một bộ phận dân cư, một dân tộc, sắc tộc nào đó là “người bản địa”, nếu điều đó là phù hợp với lợi ích của quốc gia- dân tộc đó.
Chống kẻ mạnh ức hiếp người yếu- nói theo thuật ngữ nhân quyền là bảo vệ quyền và lợi ích của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương là một giá trị nhân văn chung của tất cả các dân tộc, đồng thời cũng có thể xem là một nguyên tắc của Luật Nhân quyền và Luật Nhân đạo quốc tế
Sự ra đời một văn kiện quốc tế bảo vệ quyền của “người bản địa” là một ý tưởng nhân văn tiến bộ, tích cực. Nó sẽ rất hữu ích, được đánh giá cao hơn, nếu được đưa ra đúng thời điểm lịch sử - khi các dân tộc thuộc địa đang đứng lên đấu tranh với chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc.
Vào năm 1960, khi chủ nghĩa thực dân cũ đã sụp đổ từng mảng, Liên hợp quốc ra “Tuyên bố về trao trả độc lập cho các dân tộc”. Mặc dù đó là việc làm đã muộn, nhưng dù sao như người ta thường nói: “muộn còn hơn không”. Thái độ của Liên hợp quốc trong văn kiện này là khá rõ ràng. Tuyên bố nhấn mạnh rằng khi trao trả độc lập cho các dân tộc, không được phá vỡ sự toàn vẹn lãnh thổ và sự thống nhất của các quốc gia … Tuyên bố ghi: “Bất kỳ cố gắng nào nhằm gây phá vỡ toàn bộ hay một phần sự thống nhất quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của một đất nước là trái với mục tiêu và nguyên tắc của Liên hợp quốc”[1].
Công ước quốc tế “ Về các dân tộc và bộ tộc bản địa ở các quốc gia độc lập” đã ghi “các dân tộc trong các quốc gia độc lập “ được gọi trong Công ước này, không có nghĩa gắn với việc áp dụng tất cá các quyền liên quan đến khái niệm này trong Luật quốc tế”2 . Nói cụ thể hơn đó là quyền dân tộc tự quyết (sẽ được trình bầy ở phần sau). Những phần tử dân tộc cực đoan trong đó có một số phần tử Khmer Krom sống lưu vong ở nước ngoài, được chủ nghĩa đế quốc khuyến khích, giúp đỡ về chính trị và vật chất, đang vận động, xúi dục đồng bào các dân tộc thiểu số trong nước, trong đó có đồng bào Khmer đòi “quyền tự quyết”, với nhiều nội dung trái với Hiến pháp và Pháp luật Việt Nam. Hơn nữa chúng còn vu cáo Chính phủ Việt Nam đang thực hiện “chính sách đồng hoá” các dân tộc thiểu số trong đó có người Khmer Krom như ép họ phải “bỏ đạo, bỏ văn hoá dân tộc” để hoà nhập với “cuộc sống văn minh” của người Việt”. Họ còn lên mặt răn dạy: “Việt Nam đã bỏ phiếu thông qua Tuyên ngôn về những quyền của người dân bản địa” thì phải thực hiện quyền của người Khmer Krom v.v…
Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng; Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước ta đối với các dân tộc là quang minh chính đại.
Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm nhiều dân tộc cùng sinh sống, cùng nhau kề vai sát cánh trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Mỗi dân tộc có phong tục, tập quán, văn hóa, lối sống riêng. Điều đó đã tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam - niềm tự hào của mỗi dân tộc và của cả dân tộc Việt Nam. Giữ gìn tính đa dạng và bản sắc của nền văn hóa Việt Nam trên cơ sở bảo đẩm quyền bình đẳng giữa các dân tộc là quyền, lợi ích, đồng thời là trách nhiệm của Nhà nước, của mỗi dân tộc và của mỗi người dân Việt Nam, không kể họ thuộc dân tộc nào. Quan điểm của Đảng ta đối với các dân tộc là :” Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển”1.
Điều 5 Hiến pháp (1992), nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định như sau: “ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam .
Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, …Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.
Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vạt chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. “
Tác giả bài này không có ý định làm mất nhiều thời gian của bạn đọc đưa ra các lập luận, chứng cứ nhất là những thành tựu trong việc thực hiện các chủ trương , chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số để bác bỏ những điều vu cáo của họ. Không phủ nhận rằng, ở đâu đó việt thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước có thể còn có nhiều thiếu sót, khuyết điểm; đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, do hoàn cảnh lịch sử, do điều kiện địa lý…vẫn còn nhiều khó khăn …, song điều đó hoàn toàn không phải do chính sách phân biệt đối xử, càng không phải là bản chất của xã hội ta, nó tất yếu nó sẽ được khắc phục. Bài viết này không nhằm trình bày đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các dân tộc thiểu số mà chỉ muốn làm sáng tỏ khái niệm “quyền của người bản địa” để vạch trần thủ đoạn lợi dụng, xuyên tạc bản Tuyên ngôn này của các phần tử phản động trong và ngoài nước.
Theo quan niệm của cộng đồng quốc tế, hay nói chính xác hơn, theo một số văn kiện nhân quyền của Liên hợp quốc, khái niệm “quyền của người bản địa”, quyền của của các dân tộc, sắc tộc hoặc “ người bản địa” là những nhóm dân cư trong một nước, khác với “quyền dân tộc tự quyết”, là quyền của cả quốc gia- dân tộc
Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966, quyền của “nhóm thiểu số về dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ” là quyền “có một đời sống văn hoá riêng, quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng hoặc được sử dụng tiếng nói riêng”1. Nói tóm lại là những quyền thuộc nhóm quyền về văn hoá.
Trong khi đó “quyền dân tộc tự quyết” với tư cách là quyền của quốc gia-dân tộc, được ghi ( ở Điều 1) cũng trong Công ước nói trên được xác định ở ba nội dung cơ bản như sau:
- Quyền tự quyết về: “Thể chế chính trị”
- Quyền tự quyết về: Con đường hay “thể chế” phát triển kinh tế
- Quyền tự quyết định về: Tài nguyên thiên nhiên và của cải của mình.
Như vậy là “ quyền tự quyết “ của dân tộc, sắc tộc nào đó trong một quốc gia – dân tộc không được phép vượt ra ngoài khuôn khổ “ Quyền dân tộc tự quyết, không được xâm phạm quyền của cả quốc gia- dân tộc. Những đòi hỏi về “quyền tự quyết” mà người ta dựa vào “Tuyên ngôn về quyền của người bản địa”chẳng những vi phạm Hiến pháp, phát luật Việt Nam , mà còn trái với Hiến chương Liên hợp quốc, và Luật quốc tế về quyền con người. Về bản chất, những đòi hỏi của những lực lượng dân tộc cực đoan là một thủ đoạn chính trị nằm trong chiến lược của các thế lực thù địch nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, hoàn toàn không phải vì lợi ích của đồng bào các dân tộc thiểu số của chúng ta.
Bối cảnh chính trị thế giới từ thập niên cuối cùng của thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI khác xa với những thập niên giữa thế kỷ XX. Mục tiêu của cộng đồng quốc tế trong thế kỷ XXI là khắc phục tình trạng nghèo khổ, thiếu giáo dục, bình đẳng giới, tỉ lệ trẻ em tử vong cao, bệnh tật hiểm nghèo, và suy thoái môi trường … (Tuyên bố Thiên niên kỷ). Đồng thời các quốc gia dân tộc đang phải đối diện với chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa tôn giáo cực đoan . Đối với các quốc gia- dân tộc mới giành được độc lập còn phải đối diện với âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc lợi dụng những vấn đề trên, kích động các lực lượng li khai, làm tổn hại đến khối đại đoàn kết toàn dân, sự toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất đất nước, làm suy yếu các quốc gia khiến các quốc gia này phải lệ thuộc vào họ
Để thực hiện những mục tiêu đó, cộng đồng quốc tế, cũng như các quốc gia, trước hết cần duy trì một môi trường hoà bình, ổn định để phát triển.
Tuyên ngôn về quyền của người bản địa là một văn kiện rất đáng trân trọng. Song chúng ta cần tỉnh táo, bảo vệ những giá trị cao quý của nó, đồng thời không mắc vào những thủ đoạn lừa dối, mỵ dân mà các lực lượng chính trị phản động đang xuyên tạc, lợi dụng, phục vụ cho những mưu đồ xấu xa, thâm độc của chúng./.
Nguồn Tạp chí Ban Tuyên giáo
Tổ chức Theo dõi nhân quyền đưa thông tin sai sự thật!
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê DũngMột lần nữa Tổ chức Theo dõi nhân quyền lại đưa ra những thông tin sai sự thật, không phản ánh đúng tình hình thực tế tại Việt Nam. Chúng tôi mạnh mẽ bác bỏ những nhận xét sai trái trong báo cáo hàng năm ra ngày 31/1/2008 của Tổ chức Theo dõi nhân quyền.
Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của mọi người, trong đó có quyền tự do ngôn luận. Cũng như ở mọi nước khác trên thế giới, Nhà nước Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để có các hành vi vi phạm pháp luật. Ở Việt Nam, không có đàn áp chính trị, không có ai bị bắt vì lý do chính kiến, tôn giáo, chỉ có những người vi phạm pháp luật bị xử lý theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Thời gian qua, ở Việt Nam một số đối tượng đã bị xử lý về tội vi phạm pháp luật và chính sách của Nhà nước Việt Nam, phá hoại an ninh, trật tự và ổn định xã hội, phá hoại đoàn kết dân tộc, hoàn toàn không phải vì lý do bất đồng chính kiến. Việc xét xử nghiêm minh những người vi phạm pháp luật là việc làm bình thường, theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam.
(Theo TTXVN)
